Monday, June 1, 2026

ĐỪNG BẮT TÔ PHỞ GÀ GÁNH CẢ NGÀN NĂM VĂN HIẾN

BÍ BẾP

Dạo gần đây, thỉnh thoảng tôi đọc được vài bài viết nghe rất “lên đời” về văn hóa, nghệ thuật và ẩm thực ở miền ngoài. Nào là ca sĩ miền Bắc có vẻ hợp với nhạc thính phòng hơn, còn ca sĩ miền Nam thì hình như chỉ chuyên trị bolero, nhạc sến, nhạc mùi. Rồi lại có những lời quảng cáo nghe rất trang trọng, kiểu như “Phở gà Hà Nội, nét di sản tinh tế của đất Kinh kỳ.” Thoáng đọc qua thì thấy chữ nghĩa rất có mùi văn hóa, bay lượn như khói trầm trong đình làng. Nhưng ngẫm kỹ, cũng nên thong thả một chút, kẻo tô phở gà chưa kịp nguội mà đã bị bắt đội mão “di sản”, mặc áo “ngàn năm văn hiến”, rồi đứng nghiêm chào lịch sử.
Nói cho ngay, gà thì đâu chẳng có. Phở gà cũng không phải món từ trời rơi xuống riêng cho một vùng đất nào. Món ăn ngon hay dở, phần lớn vẫn nằm ở tay nghề người nấu, kinh nghiệm nêm nếm, cách xử lý nước dùng, và nhất là nguyên liệu có thật sự tươi, sạch, đúng chất hay không. Gà thả vườn, chạy bộ ngoài sân, thịt chắc, da giòn, thơm tự nhiên, dĩ nhiên khác xa với gà công nghiệp nuôi theo lịch trình tăng trưởng nhanh như cán bộ chạy chỉ tiêu cuối quý. Mà giữa Hà thành thời nay, đất còn phải tính từng mét vuông, nhà còn chen nhau thở, thì chuyện nuôi gà thả vườn cho đúng nghĩa ngay đất Kinh kỳ nghe cũng hơi giống một thứ truyền thuyết dân gian thời đô thị hóa.
Những ai từng sống ở Sài Gòn trước đây hẳn cũng dễ nhớ tới quán phở gà Hiền Vương ở quận 3, một quán phở gà nổi tiếng do người gốc Bắc lập nên sau 1954. Sài Gòn thuở đó vốn là đất mở, ai mang theo món ngon, nghề hay, cách nấu khéo, thì cứ tự nhiên góp vào cái nồi chung của thành phố. Người Bắc đem phở vào Nam, người Nam thêm cái rộng rãi, phóng khoáng của mình, rồi món ăn cứ vậy mà sống trong lòng thực khách, không cần phải treo bảng “ngàn năm văn hiến” trước cửa.
Cả Sài Gòn ngày xưa đâu thiếu phở ngon. Có quán lớn, có quán nhỏ, có gánh phở đêm, có xe phở đầu hẻm, có tô phở ăn xong nhớ hoài mà chủ quán chẳng cần biết tới hai chữ “di sản”. Họ chỉ biết nấu cho ngon, bán cho tử tế, khách ăn thấy vừa miệng thì hôm sau quay lại. Vậy thôi mà bền. Cái hay của ẩm thực Sài Gòn là ở chỗ đó, không ồn ào xưng danh, không bắt tô phở phải gồng mình làm đại sứ văn hóa, càng không cần thổi nước dùng thành huyền thoại để chứng minh mình thanh lịch hơn ai.
Tôi không phủ nhận Hà Nội có nét ẩm thực riêng. Không ai rảnh tới mức đi cãi chuyện một tô phở ngon, một bát bún thang khéo, hay một chén nước dùng được nấu có tay nghề. Nhưng ngon là một chuyện, còn đem chữ “di sản”, “tinh tế”, “Kinh kỳ” treo lên khắp nơi lại là chuyện khác. Có khi món ăn chưa kịp đi vào lòng người đã bị quảng cáo kéo lên sân khấu, bắt mặc áo gấm, đội khăn xếp, rồi đọc diễn văn về truyền thống. Tô phở lúc đó không còn là tô phở nữa, mà giống như một đại biểu văn hóa đang bị bắt phát biểu quá giờ.
Chuyện nghệ thuật cũng vậy. Bây giờ nói ca sĩ miền Bắc hợp với thính phòng, ca sĩ miền Nam chỉ hợp bolero, nghe qua tưởng là nhận xét chuyên môn, nhưng thật ra dễ trượt qua kiểu phân chia văn hóa rất buồn cười. Bolero có cái hay của bolero, thính phòng có cái khó của thính phòng. Người hát hay thì ở đâu cũng hay. Người hát dở thì có đứng giữa nhà hát lớn, đèn chùm sáng rực, micro xịn tới đâu, khán giả cũng chỉ mong mau tới giờ nghỉ giải lao. Nghệ thuật không phải cứ khoác áo “bác học” là tự nhiên cao hơn người khác, cũng không phải cứ hát về đời thường, tình nghèo, phận người là thấp hơn ai. Có khi một câu bolero hát đúng nỗi đời còn thật hơn cả một buổi thính phòng mà người nghe chỉ dám vỗ tay vì sợ mình bị coi là thiếu trình độ.
Điều đáng nói là sự “lên đời” văn hóa hôm nay thật ra mới diễn ra trong vài mươi năm gần đây. Trước đó, trong thời bao cấp, thử hỏi cả Hà thành có được bao nhiêu phòng nghe nhạc cho ra hồn, để người ta thong dong thưởng thức thính phòng, jazz, hay những dòng nhạc không phục vụ khẩu hiệu? Lúc ấy, muốn thoát ra khỏi kiểu “tiếng hát át tiếng bom” cũng đâu phải dễ. Chỉ cần thích nghe, thích hát, thích mặc, thích sống hơi khác một chút thôi, người ta đã có thể bị chụp cho cái nón “tiểu tư sản”, “lai căng”, hay nặng hơn nữa là “có vấn đề lập trường”. Cái nón đó hồi xưa không cần chọn size, ai bị chụp cũng vừa.
Ẩm thực cũng vậy. Bây giờ đi đâu cũng thấy bảng hiệu “gia truyền”, “truyền thống ba đời”, “nấu theo lối xưa”, “hương vị Kinh kỳ”, nghe cứ như nhà nào cũng từng có bếp than hồng, nồi nước lèo nghi ngút, gà thả vườn chạy vòng vòng ngoài sân, gia vị tinh tuyển từ đời cụ cố. Nhưng mới đây thôi, trong thời bao cấp, nhiều gia đình củi còn không đủ để đun nồi nước sôi, gạo còn theo tem phiếu, thịt cá là chuyện phải tính từng lạng, nói gì tới chuyện ngày ngày nấu nướng tinh tế, truyền đời, thanh lịch như trong tờ quảng cáo. Không phải quá khứ không có cái hay, nhưng cũng không nên đem cái thiếu thốn, chật vật, kham khổ ngày xưa sơn phết lại thành một bức tranh vàng son để vừa mắt khách hàng hôm nay.
Điều buồn cười hơn nữa là bây giờ người ta rất thích nói tới “di sản”, “phố cổ”, “tinh hoa buôn bán”, “văn hóa hàng quán”, “nghề gia truyền”, “doanh nhân dân tộc”, nghe cứ như cái mạch thương nghiệp tư nhân ấy được nâng niu liên tục từ đời ông cố tới đời cháu nội. Nhưng lịch sử đâu có hiền như tờ quảng cáo. Đã có một thời, người buôn bán bị nhìn bằng con mắt nghi ngại, tiểu thương bị xếp vào diện phải cải tạo, chủ tiệm, chủ xưởng, người có chút vốn liếng, chút nghề nghiệp, chút cửa hàng riêng, đều có thể bị khoác lên người những nhãn hiệu rất nặng như “tư sản”, “tiểu tư sản”, “tư sản mại bản”. Hồi đó mở tiệm thì bị coi là có vấn đề, còn bây giờ mở chuỗi nhà hàng thì được gọi là khởi nghiệp văn hóa. Đúng là lịch sử cũng biết thay áo, chỉ có điều cái áo mới đôi khi che chưa hết vết vá cũ.
Cho nên, khi thấy hôm nay người ta dựng lại những khu phố ẩm thực, những quán cà phê phong cách xưa, những bảng hiệu “gia truyền ba đời”, những nhà hàng treo đèn lồng, bày bàn ghế gỗ, kể chuyện “nét thanh lịch đất Kinh kỳ”, tôi chỉ thấy nên cười nhẹ một cái. Không phải vì những thứ đó không đẹp, mà vì cái đẹp ấy đã từng có lúc bị chính những khẩu hiệu ngày xưa xem là tàn dư của lối sống tư sản. Ngày trước, một cái máy may, một tiệm tạp hóa, một quán ăn đông khách, một hiệu buôn nhỏ cũng có thể thành lý lịch kinh tế đáng ngại. Ngày nay, cũng những thứ đó, nếu biết trang trí lại cho sang, gắn thêm chữ “di sản”, “bản sắc”, “tinh hoa”, thì bỗng nhiên trở thành niềm tự hào văn hóa. Cái bàn gỗ ngày xưa là dấu hiệu tiểu tư sản, hôm nay đem lau bóng lại thì thành phong cách hoài cổ.


Cái nghịch lý nằm ở chỗ đó. Một thời thì đánh tư sản, cải tạo thương nghiệp, xem kinh doanh tư nhân như thứ cần uốn nắn. Một thời sau thì lại tôn vinh doanh nhân, cổ vũ kinh tế tư nhân, vỗ tay cho cửa hàng, quán xá, thương hiệu, nhà hàng, khách sạn mọc lên như nấm sau mưa. Lên đời là chuyện đáng mừng, nhưng lên đời mà quên mất cái thời từng đập bể cái thang để người khác không leo lên được, thì câu chuyện văn hóa nghe hơi thiếu thành thật. Hôm qua còn cấm người ta buôn bán, hôm nay lại khen ai biết làm ăn là có “tinh thần dân tộc”, nghe cũng vui, chỉ tiếc là nhiều người bị tịch thu bàn ghế ngày xưa không còn đủ sức ngồi lại để vỗ tay.
Nói vậy không phải để phủ nhận hiện tại. Đất nước khá hơn, người dân làm ăn được hơn, hàng quán đẹp hơn, món ăn phong phú hơn, đời sống có màu sắc hơn, đó là điều đáng quý. Nhưng nếu đã gọi là di sản thì phải nhớ đủ cả hai mặt. Di sản không chỉ là tô phở gà được bày trong cái tô sứ đẹp, với mấy lát lá chanh xắt nhuyễn nằm duyên dáng bên trên. Di sản còn có cả cái thời người ta phải xếp hàng mua gạo, phải đong dầu, phải tính từng bó củi, và phải giấu bớt sự tháo vát của mình vì sợ bị nhìn thành “thành phần kinh tế có vấn đề”. Di sản không chỉ có mùi nước dùng, nó còn có mùi khói bếp, mùi tem phiếu, mùi mồ hôi của những người từng sống qua một thời nói thật cũng khó, nói ngon lại càng khó hơn.
Lên đời là có thật. Kinh tế khá hơn, đời sống mở ra, người ta ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn, nghe nhạc đa dạng hơn, đi nhà hàng nhiều hơn, có điều kiện chăm chút cho văn hóa hơn. Đó là điều đáng mừng. Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử. Có cũ mới có mới. Có nghèo khó mới hiểu giá trị của no đủ. Có một thời tem phiếu, củi than, xếp hàng, thiếu thốn, thì hôm nay mới thấy một tô phở nóng, một ly cà phê ngon, một buổi hòa nhạc tử tế là điều quý. Nhưng quý không có nghĩa là phải dựng lại quá khứ theo kiểu lộng lẫy hóa, biến những năm tháng chưa mấy sáng sủa thành cái phông nền sang trọng để đánh bóng cái hào nhoáng hiện giờ. Nói nôm na, cái nồi từng thiếu củi thì đừng kể lại như thể lúc nào cũng hầm xương bằng lửa văn hiến.


Nói thật chẳng có gì khó. Khó là nói thật mà vẫn không làm mất vui. Phở gà ngon thì cứ khen ngon. Phở gà Hà Nội ngon thì cứ khen phở gà Hà Nội. Phở gà Hiền Vương ở Sài Gòn từng được nhiều người nhớ thì cứ ghi nhận là đáng nhớ. Ca sĩ hát hay thì cứ khen hát hay. Hà Nội có nét riêng thì cứ ghi nhận nét riêng. Miền Nam có bolero, có cải lương, có giọng ca mùi mẫn, có cái hồn bình dân, thì cũng chẳng có gì phải xấu hổ. Văn hóa không phải cái thang máy để ai đó bấm nút lên tầng cao rồi nhìn xuống người khác. Văn hóa, nếu thật sự là văn hóa, thì phải đủ rộng để chứa cả nhà hát lớn lẫn quán cóc, cả thính phòng lẫn bolero, cả phở gà Hà Nội lẫn tô hủ tiếu miền Tây lúc sáng sớm bên bờ sông.
Cho nên, xin cứ thưởng thức, cứ quảng bá, cứ tự hào, nhưng cũng nên chừa lại một khoảng trống cho sự thật. Bởi cái gì ngon thì tự nó có hương. Cái gì đẹp thì tự nó có dáng. Còn cái gì phải nhờ quá nhiều mỹ từ để đứng vững, thì đôi khi không phải vì nó quá tinh tế, mà vì nó đang hơi thiếu nước dùng. Phở ngon thì để người ăn nhớ, không cần bắt người ăn phải học sử trước khi húp nước lèo.
Lịch sử không phải cái khăn trải bàn để phủ lên những vết xước cũ. Nó là cái mặt bàn thiệt, có chỗ bóng, chỗ sứt, chỗ cháy cạnh, chỗ còn nguyên dấu dao. Nhìn thẳng vào đó thì câu chuyện văn hóa mới có chiều sâu. Còn chỉ đánh bóng cho sáng, rồi gọi đó là “di sản”, thì e rằng không phải văn hóa đang lên đời, mà chỉ là cái bảng hiệu đang được thay phông chữ

Bí Bếp (https://www.facebook.com/share/p/14gJoHugyz4/)

_______________________

Sunday, May 31, 2026

Ở Lại Mỹ Hay Trở Về VIỆT NAM Khi Về Già ?

Có lẽ đây là một trong những câu hỏi khiến nhiều người Việt xa xứ trăn trở nhất khi bước vào tuổi xế chiều. Sau bao năm tháng bôn ba, làm việc, gây dựng cuộc sống nơi đất khách, đến một lúc nào đó, người ta lại tự hỏi : “Mình nên ở lại Mỹ hay trở về Việt Nam để sống những năm tháng còn lại ?”.

Thật ra, không có câu trả lời nào đúng cho tất cả mọi người. Ai mà không muốn vẹn cả đôi đường ? Nhưng cuộc đời vốn dĩ là những cuộc đánh đổi.

Nếu chọn ở lại Mỹ, bạn chọn sự an tâm về hạ tầng y tế, về những phúc lợi mà bạn đã đóng góp bằng những ngày cày cuốc không nghỉ ngơi. Quan trọng hơn cả, bạn được ở gần những đứa con đã trưởng thành và đàn cháu đang lớn lên từng ngày, những thế hệ đã cắm rễ sâu vào xứ sở này. Nhưng đổi lại, đó có thể là những buổi chiều nhạt nắng nhìn ra khoảng sân vắng lặng, là nỗi cô đơn thấu xương khi guồng quay hối hả của xã hội khiến người già vô tình bị bỏ lại phía sau, hay nỗi e ngại âm thầm về những tháng ngày lặng lẽ trong viện dưỡng lão.

Nếu nhắm mắt đưa chân chọn về Việt Nam, bạn đang mua lại cho mình sự thân thuộc của cội nguồn. Bạn được đắm mình trong tiếng mẹ đẻ, được sưởi ấm bởi tình cảm xóm giềng, nhẩn nha tô bún bò hay bát bánh canh nóng hổi góc phố quen mà chẳng màng rào cản nào cả. Khoản tiền dành dụm bao năm cũng đủ để bạn sống an nhàn lúc tuổi già hơn. Nhưng cái giá phải trả là sự chia cắt với ruột thịt. Sẽ là những chuyến bay dài đằng đẵng vắt kiệt sức lực mỗi khi nhớ con, nhớ cháu và đôi khi là "cú sốc văn hóa ngược" ngay trên chính quê hương mình sau hàng thập kỷ xa cách mà mình có thật sự quen với cuộc sống đó không.

Thực tế phũ phàng mà chúng ta phải đối diện là : Không có bến đỗ nào hoàn hảo tuyệt đối. Chỉ có lựa chọn mà ở đó, bạn sẵn sàng mỉm cười chấp nhận những phần khuyết đi.

Thay vì cứ mãi dằn vặt giữa được và mất, hãy chậm lại để lắng nghe chính mình. Điều gì mới là cội rễ của sự bình an trong bạn lúc này ? Là nụ cười của con cháu vào những dịp cuối tuần ở Mỹ, hay là buổi sáng mờ sương nhâm nhi ly cà phê nhìn phố xá rộn ràng ở quê nhà ? Bạn sẵn sàng ôm lấy nỗi cô đơn tĩnh lặng ở xứ người, hay chấp nhận sự xa cách tình thân để đổi lấy nhịp đập quê hương ?

Sau tất cả, "nhà" không nằm ở tọa độ địa lý, mà là nơi trái tim bạn thực sự thấy nhẹ nhõm. Dù là hoàng hôn trên đất Mỹ hay bình minh ở Việt Nam, miễn là mỗi sớm mai thức dậy bạn thấy lòng mình không còn chông chênh, thì đó chính là quyết định chính xác nhất cho những năm tháng xế chiều.

Hãy chia sẻ bài viết nhỏ này đến những người bạn quan tâm, biết đâu sẽ giúp đỡ được một phần nào đó cho họ.

Nguồn Miền Tự Tại

___________________________

Friday, May 29, 2026

Nội tạng cấy ghép không chỉ là “nội tạng”

Diễn viên múa chuyên nghiệp người Mỹ Claire Sylvia do mắc bệnh tăng áp động mạch phổi nguyên phát, vào năm 1988 khi 47 tuổi đã phải trải qua ca phẫu thuật cấy ghép tim phổi. Không lâu sau ca phẫu thuật, bà rất muốn uống bia, thích ăn một số thực phẩm như kẹo sô-cô-la, ớt chuông xanh và gà rán KFC, mà những thực phẩm này trước đây bà chưa bao giờ động tới. 5 tháng sau ca phẫu thuật, bà còn mơ thấy mình rất thân thiết với một thiếu niên cao gầy, tóc đỏ có tên viết tắt là Tim L., trong cõi u minh bà biết rằng cậu ấy chính là người hiến tặng trái tim. Đáng mừng là sau khi bình phục, bà đã lấy lại được sức sống trong thế giới khiêu vũ.

Một y tá từng nói với Sylvia rằng, trái tim của bà đến từ một chàng trai 18 tuổi đi xe máy bị tai nạn giao thông, nhà cậu ấy ở bang Maine. Mãi đến năm 1990, thông qua cáo phó trên báo, bà mới tìm ra tên của người hiến tặng – Timothy Lamirande.

Sylvia đã đến thăm gia đình Lamirande, họ xác nhận với bà rằng, Tim (gọi tắt của Timothy) khi còn sống có năng lượng dồi dào, bia, gà rán, ớt chuông xanh đều là những thực phẩm cậu yêu thích lúc sinh thời.

Bước lại con đường nhân sinh của người hiến tặng
Sonny Graham, sống tại bang Georgia, Mỹ, do nhiễm virus nên mắc bệnh cơ tim giãn, sau một năm đăng ký chờ ghép tim, ông đã phẫu thuật thành công vào năm 1995. Năm sau đó, ông liên hệ với cơ quan trung gian hiến tặng nội tạng để gửi thư cảm ơn đến người vợ góa của người hiến tặng là Cheryl Sweat.

Graham nhớ lại với truyền thông, khi gặp Sweat 28 tuổi vào tháng 1/1997, “cảm giác như đã quen biết cô ấy từ nhiều năm trước. Tôi cứ nhìn cô ấy, không thể rời mắt”, ông thừa nhận mình đã yêu cô từ cái nhìn đầu tiên.

Hai người kết hôn vào năm 2004. Ba năm sau, Graham 69 tuổi đã nổ súng tự kết liễu đời mình, hoàn toàn giống với người hiến tặng trái tim cho ông – Terry Cottle, 33 tuổi năm đó.

Người nhà từng kể rằng, sau ca cấy ghép, Graham trở nên thích uống bia, ăn xúc xích (hot dog), đó chính là sở thích lúc sinh thời của Cottle.

Gu nghệ thuật cũng có thể cấy ghép
Ngoài những trải nghiệm giác quan thông thường, ngay cả trải nghiệm và gu thưởng thức nghệ thuật cũng có thể “cấy ghép” sang một người khác.

Một công nhân đúc 47 tuổi người Mỹ được chẩn đoán hẹp van động mạch chủ, người hiến tặng trái tim cho ông là một thiếu niên gốc Phi 17 tuổi, cậu bé này đã qua đời do bị bắn trên đường đi học violin.

Mẹ của cậu thiếu niên cho biết, con trai cô yêu thích nhạc cổ điển, tài năng được giáo viên công nhận, bản thân cậu cũng mơ ước được biểu diễn tại hội trường Carnegie; khi ngã xuống đường, trong lòng cậu vẫn ôm hộp đàn violin.

Người công nhân này là người da trắng, ông không kỳ thị người gốc Phi, nhưng ban đầu cũng có chút e ngại, từng đề nghị bác sĩ muốn chờ trái tim của người da trắng. Sau khi trải qua ca phẫu thuật, vợ ông tiết lộ rằng, ông cảm thấy rất thoải mái khi chung sống với những đồng nghiệp gốc Phi trong nhà máy, và còn bắt đầu mời họ đến nhà làm khách.

Người vợ cũng thắc mắc bày tỏ, “Ông ấy không biết một bản nhạc cổ điển nào, chưa từng nghe bao giờ. Bây giờ ông ấy có thể ngồi nghe nhạc cổ điển hàng giờ liền, miệng còn huýt sáo những giai điệu mà ông ấy chưa từng biết. Ông ấy nghe từ đâu vậy?”

Tái hiện trải nghiệm tử vong của người hiến tặng
Giáo sư đại học 56 tuổi Ben sau vài tuần phẫu thuật ghép tim, bắt đầu thường xuyên gặp những giấc mơ kỳ lạ. Trong mơ, ông thấy một tia chớp đánh vào mặt, đồng thời khuôn mặt cảm thấy đau rát nhức nhối như bị bỏng.

Trong mơ còn có những hình ảnh khác, Ben không nói với bác sĩ, chỉ kể cho vợ là Casey, đó là trước khi ánh lửa xuất hiện, ông sẽ nhìn thoáng qua khuôn mặt bình tĩnh của một người đàn ông tóc dài, râu dài.

Khi Casey trò chuyện cùng người vợ góa của người hiến tặng trái tim đó, cô đã tình cờ nhắc đến những tình huống này của chồng, đối phương vô cùng sốc, bởi vì người chồng quá cố của cô – sĩ quan cảnh sát Carl 34 tuổi chính là bị trúng đạn vào mặt mà chết trong lúc truy bắt tội phạm ma túy.

Tia chớp đáng sợ đó, có lẽ là cảnh tượng cuối cùng mà anh ấy nhìn thấy trong đời; cảnh sát mặc dù chưa bắt được hung thủ, nhưng việc phục dựng lại diện mạo của nghi phạm, chính là người có mái tóc dài, râu dài, hốc mắt sâu, khuôn mặt vô cảm.

Theo Vision Times

____________________________

Thursday, May 28, 2026

MA LÀ GÌ? KHOA HỌC ĐÃ CÓ CÂU TRẢ LỜI

Hình ảnh đốm ma trơi lập lòe gieo rắc nỗi sợ hãi và tò mò trong suốt hàng thế kỷ (Ảnh: Getty)

Ma trơi từng là biểu tượng của linh hồn và sự ám ảnh. Nhưng dưới lăng kính khoa học hiện đại, đó có thể chỉ là một hiện tượng vật lý hiếm gặp.

Wednesday, May 27, 2026

Những lưu ý về ung thư da ở người lớn tuổi

Bệnh đang gia tăng ở người lớn tuổi. Dưới đây là cách để bạn tự bảo vệ mình

Khi tuổi tác tăng lên, bạn có thể nhận thấy nhiều đốm và khối u xuất hiện trên da. Phần lớn trong số đó là lành tính. Ví dụ như dày sừng tiết bã (seborrheic keratosis) – một dạng tăng sinh (growth) dày giống mụn cóc, không gây nguy hiểm. Tuy nhiên, một số loại ung thư da dường như đang gia tăng ở người cao tuổi: ung thư biểu mô tế bào đáy và tế bào vảy (basal cell and squamous cell carcinomađã tăng hơn 60% ở nhóm từ 60 tuổi trở lên trong giai đoạn 1990-2021, theo một nghiên cứu năm 2025 trên tạp chí Scientific Reports.

Tuesday, May 26, 2026

Cha Mẹ Mất Rồi, Anh Em Ruột Dần Xa Cách, Có Khi Thành Người Dưng..

Khi cha mẹ còn, gia đình luôn có một điểm kết nối vô hình. Nhưng nhiều người chỉ nhận ra quá muộn rằng sau khi cha mẹ mất, khoảng cách giữa anh em ruột có thể ngày một lớn dần.

Có những điều lúc trẻ rất khó nhận ra. Khi cha mẹ còn khỏe mạnh, nhiều người nghĩ anh em ruột là mối quan hệ gắn kết cả đời, dù đi xa hay bận rộn thế nào cũng không thể đổi khác. Nhưng thời gian đi qua, một thực tế khiến không ít người chạnh lòng xuất hiện: cha mẹ mất đi, anh em dần ít gặp, ít nói, rồi khoảng cách cứ âm thầm lớn lên.

Monday, May 25, 2026

Y tế tại New Zealand - Họ luôn ưu tiên CỨU NGƯỜI TRƯỚC.

Một vài anh chị nói: "Y tế nước ngoài có gì mà khen, bệnh đợi cả tháng mới được khám. Ở Việt Nam thích là đi, sáng khám trưa xong rồi".

Thiệt chớ nếu chỉ nhìn bề nổi, cái "nhanh" ở mình công nhận là tiện thật.