Thursday, February 20, 2020

CÓ MỘT "TÂM CHAY"

Bùi Kim Sơn


Họ là hai anh em, tuổi đã cao, trên dưới tuổi về hưu. Người anh sống ở Sài Gòn còn người em sống ở một thành phố lớn miền Trung. Do tuổi tác cũng kề nhau, cùng trong một thế hệ, nên hai anh em rất đồng cảm và thường xuyên điện thoại thăm hỏi nhau.

Một hôm, trong lúc chuyện trò với người anh, người em vui miệng kể rằng ra chợ lựa mua trái cây về cúng Phật thường hay bị người bán lợi dụng lúc mình lơ là, tráo trái cây hư vào. “Anh biết không, mấy cô bán hàng cứ tưởng em ngu ngơ không để ý, đâu biết rằng chẳng có gì qua được mắt mình, tuy nhiên do thấy tội cho họ phải gánh chịu nhiều trái cây hư nên em phải giả đò không biết để chia sẻ bớt!”. Và người em nghĩ rằng người anh nghe chuyện lòng sẽ vui vì hành động biết nghĩ tới người khác của mình.

Nhưng không, người anh nghe xong điềm tĩnh bảo người em: “Không được, em làm vậy là sai rồi, vì khi em làm vậy tưởng là mình giúp người nhưng thực ra lại làm cho họ mang tội lừa đảo, không trung thực. Như vậy không phải là giúp người mà chính là hại người! Anh cũng giống em, chỉ khác một chút là khi mua đồ, anh luôn tự mình chọn lấy một vài trái cây hư, đồ hộp móp để cùng chia sẻ chút hư hao với người, không để cho người mắc phải tật gian dối”. Người em nghe xong, ngậm ngùi.

Một thời gian sau, nhân lúc rảnh rỗi, người em lại điện thoại thăm hỏi người anh. Và trong cuộc trò chuyện, người em kể rằng trong những lúc trà dư tửu hậu, có đem câu chuyện trao đổi hôm trước ra kể cho các bạn bè thân hữu nghe, và một người bạn thân nghe xong đã phát biểu rằng, “Tâm đó mới đúng là tâm chay!”.
Người anh chỉ cười và cũng chẳng quan tâm gì lắm. Vì, một là, chuyện trò đã qua xong rồi thì thôi, chẳng lưu giữ trong lòng làm chi. Hai là, người anh cũng chẳng tin tưởng gì lắm về lời phát biểu cùng buổi họp mặt của người em, tất cả đều có thể có và cũng có thể không. Có thể chỉ là phịa ra một chút cho vui. Và ba là, chỉ có chân tâm diệu hữu chớ làm gì có tâm chay.

Thế nhưng, một ngày nọ, nhân dịp thuận tiện, người anh về thăm người em. Trong buổi cà phê hàn huyên cùng các thân hữu, có mặt cả “tác giả” của hai chữ “Tâm chay”. Người bạn này kể lại chuyện và lúc đó người anh mới biết rằng em mình kể chuyện tâm chay là thật. Người anh rất vui và lòng vô cùng cảm ơn người bạn này vì nếu trong những lúc trà dư tửu hậu anh ta cứ kể chuyện này thì ít ra cũng nhắc nhớ được cho nhau về cách sống làm sao cho đúng với đạo làm người, cho dù chỉ bằng những hành vi nhỏ nhặt nhất.

Chợt nhớ đọc trong sách xưa, có kể chuyện một vị đạo sĩ mang ơn một người nên muốn tặng cho thuật biến than thành vàng ròng. Người này ngẫm nghĩ một chút rồi hỏi thuật này có giá trị trong bao lâu. Vị đạo sĩ cho biết là 500 năm. Nghe vậy, không chút đắn đo, người này lập tức trả lời rằng: “Vậy là sau 500 năm nữa vàng sẽ trở lại thành than, và người ôm số vàng đó sẽ vô cùng khổ đau vì mất mát và tiếc của. Cảm ơn tiên sinh, nhưng tôi không nhận thuật này vì tôi không muốn cho người khác phải khổ đau, cho dù là sau 500 năm!”. Chao ôi, đọc chuyện mà thấy vô vàn kính mộ cho tấm lòng của người xưa.

Thật sự thì đời nay cũng không phải là không có những tấm lòng như vậy. Như Leon Tolstoi, nhà đại văn hào Nga, với câu nói bất hủ “Hạnh phúc của một người là làm cho người khác được hạnh phúc”. Hay như một tác giả Pháp với câu: “On ne peut donner son bien, mais on peut donner une partie de son coeur” (tạm dịch: Dẫu ta không thể đem cho người tài sản của cải, nhưng ta vẫn có thể trao cho người một phần của trái tim mình).
Mong sao cho mọi người chúng ta hôm nay đều có được “Tâm chay” và biết trao cho người một phần của trái tim mình.

Bùi Kim Sơn
(Tạp chí Đạo Phật Ngày Nay - số 13)

____________________________________

Wednesday, February 19, 2020

Tui là dân NẪU

Nguyễn Thị Thêm

Trước hết tui xác nhận, dù tui nói giọng Nam KQuốc rặc, nhưng tui cũng là dân Nẫu. Trong  của trái tim người con dân Bình Định, tui không xấu hổ khi có người hỏi :
- Chị là dân Nẫu thiệt hả ?
Ừa thì dân Nẫu có gì mà xấu. Bởi ba tui từ Bình Định vào Nam lập nghiệp từ nhỏ. Lại có người thắc mắc tại sao lại gọi là "Dân Nẫu" tiếng lóng để chỉ người miền Phú Yên, Bình Định.

Cho nên dù muốn dù không tui cũng là "Dân Nẫu" dù tui chưa một lần về quê nội. Quê nội tui nghèo lắm đó là làng An Nhơn tỉnh Bình Định. Người dân đa phần làm ruộng và làm bánh tráng đa, nấu rượu hay làm nón. Loại nón Gò Găng đặc biệt của người Bình Định. Cái gốc gác quê hương bây giờ còn sót lại là gia đình chú của tui. Bởi chú không chịu vào Nam lập nghiệp. Chú ở lại lo hương hỏa, phần mộ tổ tiên và hương khói nhà từ đường.

Chú tui bây giờ đã 90 tuổi và vẫn còn sống. Tui còn nhớ về chú. Chú thiệt lùn. Mà kỳ nghen, người Bình Định thường là lùn lùn chứ không cao. Có lẽ vì gần núi hay phong thổ nơi ấy khiến người dân Bình Định không cao lớn, to con như người ta.

Chú Sáu tui lùn, nói năng chơn chất, âm điệu quê mùa và khó nghe. Nhưng chú đi bộ giỏi lắm. Đố thanh niên đi lại chú. Có lẽ quê nội tui đồi núi nhiều ít có xe cộ. Phương tiện di chuyển là đi bộ nên chú tui đi thật nhanh. Ở quê nhà chú nấu rượu và tráng bánh đa. Bây giờ nghe đâu con chú vẫn còn làm nghề cha truyền con nối này. Nhưng tân tiến hơn vì có máy móc không làm thủ công như chú ngày xưa.

Kỷ niệm khiến tui nhớ về chú nhiều nhất là lúc tui còn bé lắm. Thuở ấy kế bên cạnh nhà tui là nhà "Cậu Ruẫn". Ai là người sống lâu năm ở Bình Sơn thì mới biết. Nhà cậu bán tạp hóa, nhưng ban đêm cậu mở lớp dạy thêm. Học trò không phân biệt lớp mấy, cậu cũng nhận. Thù lao chẳng có gì đáng kể vì ai có gì thì nộp cái đó. Gạo, nước mắm hay đôi khi một ký thịt heo cậu cũng vui vẻ. Có những người gửi con học mà không đóng gì hết cậu cũng xí xóa. Miễn là mấy đứa nhỏ chịu học là cậu vui. Cậu thường giúp Cha và ông trùm lo việc nhà thờ. Tụi tui là học sinh của cậu nên tham gia vào toán rước kiệu mỗi khi lễ trọng. Nhóm chúng tui là nhóm mặc đồng phục đánh trắc nhịp nhàng đi sau kiệu rước.

Hôm đó Cậu cho làm toán chạy. Liên tiếp mấy bài tui về nhất. Một bài viết chính tả tui cũng đứng đầu v không bị lỗi. Cậu thưởng cho tui quyển "Thế Giới Tự Do" và một cuốn sách truyện tựa đề "Mài dao dạy vợ".

Tui mừng lắm. Hí hửng về khoe với ba má tui. Năm đó chú Sáu tui vào thăm, lúc chú về hai quyển sách đó không cánh mà bay. Tui tìm khắp nơi không có. Ba tui mới cho biết chú đã xin ba tui đem về cho con chú. Tui giận và ghét chú lắm. Tui khóc không chịu ăn cơm luôn, ba tui hứa mua cho tui quyển sách khác, nhưng tui không chịu. Đầu óc trẻ thơ tui đâm ra giận luôn mấy chú người Bình Định ba tui đang cưu mang để tìm việc làm.

Mỗi lần vào Nam, chú Sáu tui đem vào những đặc sản quê hương là bánh tráng, bánh in và bánh cốm thơm mùi gừng rất ngon. Đặc biệt nhất là nón lá Gò Găng cho má tui và rượu do chính chú nấu để ba tui đãi khách. Có một lần trời mưa, tui đội cái nón Gò Găng đi học. Nhóm bạn chọc tui là "Bà già trầu" làm tui quê quá trời. Bởi nón Gò Găng thô hơn nón Huế. Vành rộng và bên trong rất nhiều nan tre đan nhau rất đẹp và dày. Do đó nó khá nặng lại nhiều màu mè, bên ngoài lại bọc một lớp bằng nylon cho khỏi ướt. Tui chút xíu, đội cái nón to đùng lại nặng nề không thấy mặt mày ở đâu nên tụi bạn chọc cũng đúng. Từ đó tui không bao giờ đội cái nón lá quê hương đó nữa.

Chú Sáu tui rất sợ ba tui. Sau này đã có cháu nội, nhưng khi vô thăm gia đình tui, suốt thời gian ở lại chú không dám uống rượu. Dù con cháu mời chú cũng lắc đầu. Chú nói :
- Thôi ! Chú sợ anh Hai la.

Bởi ở quê nội tôi anh Hai rất có uy với em vì quyền huynh thế phụ. Nghe đâu lúc ba tui ở trong Nam, chú Năm thay mặt ba dạy dỗ chú Sáu nhiều trận cũng ly kỳ lắm.

Chú Năm tui cũng lùn và đương nhiên ba tui cũng không cao. Nhờ trời, lai bên ngoại nên tụi tui giò cẳng cũng kha khá không đến nỗi nào. Chú Năm tui rất giỏi chữ Hán và đánh võ thật tài. Hồi chú mới vô Nam, chú mở lò dạy võ Bình Định tại nhà ba tui. Buổi chiều một nhóm thanh niên ra sân múa quyền, tấn, thủ. Gậy gộc múa lia chia vui lắm. Chú đa tài, biết làm nhiều thứ để sinh nhai nên sau này chú Năm tui rất khá.

Chú Năm được ba tui gửi tiền về đài thọ cho ăn học nên chú giỏi tiếng Hán và cũng rất bảo thủ. Trong nhà chú vẽ một bức tranh thật lớn. Trong đó ngoài hình vẽ, chú viết vào những câu chữ Hán, chữ Nôm lẫn chữ Quốc Ngữ. Đại loại :
- Huynh đệ như thủ túc, phu thê như y phục.
- Trai thời trung, hiếu làm đầu.
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
- Nam vô tửu như kỳ vô phong, vân... vân...
Có một lần hai vợ chồng tui tới thăm, chú và chồng tui cãi nhau kịch liệt về những tư tưởng quá hủ lậu này. Rốt cuộc hai ông đều xỉn, gục tại chỗ.
Ngày má tui theo lệnh chồng về quê Bình Định rước bà nội tui vô Nam. Má dụ em tui :
- Con ở nhà giỏi nghen ! Má ra quê đón bà nội vô. Bà nội răng còn tốt lắm. Nội vô sẽ xước mía cho con ăn. Khỏi cần dùng dao róc mía.
Thế là má tui ra đi, tụi tui hai chị em ở nhà chờ nội về với hình ảnh thật đẹp, nội ngồi xước mía cho hai chị em ăn đã đời luôn.

Bà nội tui xuống xe. Một bà già lùn lùn, mặc bộ đồ đen, choàng một khăn sọc nâu đen cột chéo trên đầu. Một mắt bị che bởi một mãnh khăn chéo hình tam giác. Nội vô nhà kêu hai đứa và cười. Hai chị em tui dội ngược. Hai hàm răng nội đen thùi lại dính cổ trầu đo đỏ thấy ớn. Thằng em tui chạy trốn sau lưng tui thập thò nhìn nội. Còn tui khoanh tay "Thưa nội mới dô" rồi chạy tuốt ra sau hè. Đó là lần đầu tiên tui tiếp xúc với nội, một người Bình Định chính gốc và nói toàn giọng Nẫu khó nghe.

Bởi ba tui vô Nam lâu nên nói giọng đã pha tiếng Sài gòn. Âm điệu và từ dùng đã thay đổi nhiều.
Nghe nói nội tui là con quan, từ nhỏ được cưng chiều, răng nội nhuộm từ hồi còn con gái. Mỗi năm đều dùng thuốc để làm bóng và giữ răng đen, chắc. Cả đời nội chưa hề ra khỏi quê làng nên nội nói chuyện giọng rất cứng và dùng những từ địa phương rất lạ.

Tui nhớ một lần kêu tui đi lấy cái đòn cho nội ngồi, tui vô vác cây đòn gánh của má tui ra. Nội nói :
- Không phải. Cái đòn ngồi.
Thì ra nội muốn cái ghế đẫu thấp. Mỗi khi làm gì sai nội nói "Đừng làm dẫy". Mỗi khi nội ngạc nhiên nội nói "Dẫy na" hay "Úy châu cha quơi". Nội dùng từ "nẫu" để ám chỉ người khác. Làm điều gì nội vừa lòng nội nói được rầu (được rồi) hay cái đầu gấu nậu đau từ hầu tấu - (Cái đầu gối nội đau từ hồi tối). Ban đầu nghe tui không hiểu, lâu dần thấy thân thiết, quen thuộc. Vắng nội tui lại nhớ cái âm điệu quê mùa, thô kệch mà thân thiết biết bao nhiêu.

Nội nghe má kể chị em tui ước có nội vô xước mía cho ăn. Nội sai ba ra vườn chặt mía rồi kêu Út vô để ăn mía. Nội xước mía ngon lành rồi đưa cho Út. Út cầm miếng mía có dính cỗ trầu rồi đứng im. Em không dám quăng đi, mà cũng chẳng dám bỏ vào miệng.  Nhìn hàm răng đen thùi, nhìn cái khăn chéo đen che nửa bên mắt, nhìn toàn thân nội kỳ kỳ, lạ lùng dễ sợ. Cuối cùng em bật khóc. Cả nhà vỡ lẽ ra. Má ôm em vào lòng dỗ dành. Từ đó chị em tui không còn mơ nội xước mía cho mình ăn nữa. 

Tôi chưa về quê nội lần nào vì thời buổi chiến tranh, tui lấy chồng xa rồi bao nhiêu biến cố xảy ra, tui trở thành người bỏ quên quê cha đất tổ.

Mỗi khi có ai nói về dân Nẫu tui lại cười cười vì mình cũng là dân Nẫu. Một quê hương không xa mấy mà chẳng được một lần về. Nơi đó, người dân hiền lành, chân chất, cục mịch nhưng thẳng ngay và trực tính. Giọng nói của ba tui hay các chú đều chậm rãi, từ từ nhưng nhấn mạnh những gì quan trọng. Nó toát ra một cái gì chính chắn và uy nghiêm. Cho nên, dù ba tui không nói nhiều, nhưng khi ông chỉ cái ghế bảo "Ngồi xuống" là tụi tui khiếp vía thấy mình có lỗi và ân hận đã làm ông phiền lòng.

Đôi khi người ta dùng từ "Người Nẫu" có ngầm ý chê bai. Nhưng đó chỉ là phân biệt vùng, miền kỳ thị lẫn nhau. Người Bình Định hiền lành, thiệt thà không điêu ngoa hay xảo ngữ, cho nên hay bị người miền khác lừa.

Ba tui là người Nẫu. Một người cha hiền lành, cần cù và trung thực. Tôi hãnh diện về cha tui. Hãnh diện khi trong người mình cũng có gốc gác người Nẫu. 

Hồi nhỏ, mỗi lần tôi làm điều gì không đúng, ông nội tôi thường nói : Đửng làm dẫy, nẫu cừ” - (đừng làm vậy, người ta cười), nhưng cũng có khi ông nội cho tôi thoải mái, muốn làm gì thì làm, kể cả vấn thuốc rê của ổng ra sân ngồi hút phì phà như người lớn, vì : Nẫu cừ thì kệ nẫu cừ, nẫu cừ lạnh bụng, hở mừ cái răng”. Dân Nẫu đúng như giọng xứ Nẫu, hiền nhưng cộc cằn, phóng khoáng nhưng ngang ngạnh, tình cảm nhưng hơi thô kệch…

 Dân Nẫu đi đến đâu cũng là “dân nhà quê”, học hành đến mấy vẫn không trút được cái gốc “Nẫu” của mình. Nẫu không khôn ngoan, khéo léo như người Bắc. Nẫu không dịu dàng, lịch lãm như người xứ Huế. Nẫu cũng chẳng rộng rãi, vô tư như người Nam. Nẫu là Nẫu. “Nẫu dzẫy” (nậu vậy). Dân Nẫu không quan tâm người khác nghĩ gì về mình, tốt xấu gì cũng mặc, “kệ Nẫu”. Cho nên dân Nẫu đi xứ khác làm ăn bị thiệt thòi nhiều, ít bạn, nhưng nếu có bạn, Nẫu sẽ sống chết với bạn... (hết trích).

Cho nên bạn hãy yên tâm khi kết bạn với người Nẫu. Họ thiệt thà, chơn chất nhưng tốt bụng. Họ sẽ là những người bạn đáng tin cậy. Hãy tin tui đi. Vì tui cũng là "người Nẫu".

Nguyễn Thị Thêm

Tuesday, February 18, 2020

Dòng sông nước mắt bên trong Vũ hán

Quinhon11

Đạo diễn Thường Khải, người qua đời
 ở tuổi 55 hôm 14/2 vì nCoV.
Đã hai tháng qua, cả thế giới vẫn đang bàng hoàng về đại dịch nCoV hoành hành ở Vũ Hán. Với góc độ từ vùng đất bên ngoài, nhất là cảm giác an toàn ở những nước có nền y tế phát triển, người ta nhìn về đại dịch với ánh mắt có chút thờ ơ, không thiếu phần vô cảm khi có những ý kiến cho rằng: Người Tàu ác quá, cho chết bớt đi!. Hay là đang bị trời trừng phạt, đang nhận quả báo. Đáng đời .v.v.v

Trong thực tế, thì ai cũng là con người có máu thịt, có cảm giác, biết đớn đau, biết sợ hãi. Mình đọc được những câu chuyện thương tâm, dù không liên hệ nhưng ruột vẫn thấy đau. Mọi người chỉ nhìn thấy những con số, nhưng đằng sau các con số đó là gì? Họ phải đối diện sự thật tàn khốc: sự giằng xé, chết chóc. Tuy vậy, trong tận cùng tuyệt lộ vẫn có không ít những tấm lòng. Những hy sinh đáng được ngưỡng mộ. Có lỗi chăng là lỗi của những người lãnh đạo, coi sự tồn vong của đãng cộng sản, quyền lực bản thân, hơn tánh mạng người dân. Chúng bóp nghẹt tư do, nhân quyền. Xem người dân như công cụ phục vụ lợi ích một nhóm người mang danh nghĩa: ĐÃNG VÀ NHÀ NƯỚC. Đến giờ, bọn họ vẫn ung dung cả đấy. Chưa nghe có ông lớn nào nhiễm bệnh, hay qua đời vì NcoV.

Có bao nhiêu người đã và đang chết ở Vũ Hán? Con số do chính quyền đưa ra cho đến hiện tại chết ngót nghét gần 2,000 người. Nhưng thực tế với nhiều trường hợp cả gia đình 3,4 thế hệ đều chết cả, không ai sống sót. Xác người được thấy nằm như rạ từ nhà riêng, ngoài đường, bệnh viện, nhà hỏa thiêu .. thì người ta tin rằng con số người chết không thể dưới một trăm ngàn người. Cũng như còn nhiều trăm ngàn người khác đang ngắt ngoải chờ chết.

Đây là hậu quả của sự thiếu hiểu biết và vô trách nhiệm của chính phủ ngay từ khi dịch mới bùng phát. Bất chấp mối đe dọa đến sức khỏe những người xung quanh bệnh nhân. Chính việc cách ly tại nhà là nguyên nhân gây lây nhiễm chéo trong cộng đồng và gia đình, dẫn đến nhiều ca tử vong hơn, khi các ca bệnh nặng không được điều trị.

Từ đầu tháng hai, giới chức Vũ Hán tuyên bố chấm dứt chính sách cách ly tại nhà và bắt đầu phân loại các bệnh nhân thành nhóm bị nhiễm, nghi nhiễm, nhóm bị sốt và nhóm từng tiếp xúc với bệnh nhân nhưng chưa có triệu chứng. Chính sách mới này hy vọng giúp cách ly bệnh nhân theo từng loại và có liệu trình chữa trị phù hợp.

Tuy vậy, hình như đã quá muộn. Chuyện kể vẫn có rất nhiều bệnh nhân sợ hãi không dám nhập viện, khi họ biết rằng vào đó cũng bị bỏ mặc chờ chết, do bệnh viện không đủ nhân lực chăm sóc. Một khi bị cách ly rồi thì họ cũng không liên lạc được với người nhà, đến lúc chết người nhà cũng không hay. Chỉ được báo tin sau khi hỏa thiêu. Tro cốt cũng không biết bao giờ người nhà mới được nhận. Mà dù được nhận, có ai chắc đó là tro cốt của người thân mình với tình trạng hỏa thiêu tập thể?

Trên mạng không thiếu những video quay cảnh người bệnh phản kháng, họ muốn chết ở nhà, hay cùng nhau chết còn hơn bị cách ly trước, sau, mỗi người mỗi ngả. Cái cảnh cha mẹ, con cháu bị cưỡng chế cách ly, lôi kéo vứt vào xe bít bùng như những con chó hoang, phía sau xe là người thân chạy theo khóc nức nở..  Ôi! sắt đá mấy cũng không khỏi động lòng. 

Đãng cộng sản không bao giờ công bố sự thật. Họ tìm cách bưng bít, đến khi không thể bưng bít họ mới công khai, nhưng ngay cả công khai cũng chỉ là những con số láo khoét. Đó là lý do họ không để cho chính phủ các nước, trong đó có Mỹ qua tận nơi để nghiên cứu và tìm biện pháp cứu giúp. Phái đoàn của tổ chức Who cũng chỉ được đến tham khảo vòng ngoài. Không ai được phép vào tâm dịch là Vũ Hán để điều tra dù Bắc Kinh biết chậm một ngày thì có thêm cả ngàn người chết. Sau cùng, bộ mặt chế độ vẫn là quan trọng hơn tất cà. 


Vũ Hán - Xác người chết được đặt trước cổng nhà, chờ xe đến thu gom như gom rác






Dưới đây là một trong vô số những câu chuyện thương tâm tại Vũ Hán. Dù chỉ là tiếng rên xiết của vài hạt cát nhỏ bé mà chúng ta may mắn đọc được, nghe  được. Tuy vậy nếu bạn có trí tưởng tượng tốt, bạn vẫn hình dung ra được một bức tranh đẫm máu và nước mắt của Vũ Hán. 

Đạo diễn Thường Khải ở Vũ Hán.
Câu chuyện về cái chết của 4 người trong gia đình ông Thường Khải làm dấy lên lo ngại về chính sách yêu cầu người dân tự cách ly tại nhà của chính quyền Vũ Hán. 

Thường Khải, giám đốc Xưởng phim Hồ Bắc ở thành phố Vũ Hán. ngày 25/1 bố Thường Khải bắt đầu có những triệu chứng nhiễm nCoV, ngày đầu tiên của Tết Nguyên đán. Ông đã đưa bố đến nhiều bệnh viện ở Vũ Hán nhưng đều bị từ chối do thiếu giường bệnh. Gia đình ông buộc phải tự cách ly trong một căn hộ ở Vũ Hán. Ba ngày sau, bố Thường Khải qua đời. Tuy nhiên, thảm kịch của gia đình mới chỉ bắt đầu. Hôm 2/2, mẹ ông Thường tử vong sau vài ngày có triệu chứng nhiễm bệnh. Thế rồi chính Thường Khải cũng nhiễm bệnh. Ông trút hơi thở cuối ở tuổi 55 vào ngày14/2.  Chỉ vài giờ sau khi ông ra đi, chị gái ông cũng qua đời trong cuộc chiến với virus corona. Cô tuy không sống cùng bố mẹ, nhưng đã về nhà ông dự bữa cơm tất niên hôm 24/1.

>Vợ Thường Khải, người cũng đang bị nhiễm nCoV, trong tình trạng nguy kịch. Không biết có qua khỏi hay không?. 

Thường Khải trước khi chết đã lưu lại vài dòng u uất cho thảm kịch của gia đình mình:
"Khi tôi trút hơi thở yếu ớt cuối cùng, tôi muốn nói với gia đình, bạn bè và con trai tôi ở London xa xôi rằng: Cả đời mình, tôi đã là một người con hiếu thảo, một người cha có trách nhiệm, một người chồng yêu thương vợ và một người trung thực! Tạm biệt những người tôi yêu thương và những người đã yêu thương tôi!".

Bạn bè của Thường Khải bày tỏ nỗi tiếc thương đến đạo diễn "nhân hậu và dễ mến" này. "Tôi hy vọng thảm kịch sẽ được điều tra để chúng ta biết được lỗi này thuộc về ai", người bạn của ông nói 

Cũng còn chút may mắn khi con trai duy nhất của vợ chồng ông đang du học tại Anh và được khuyến cáo không về nhà để tránh dịch. Còn gì đau khổ hơn chỉ trong một thời gian ngắn mà cả gia đình đều ra người thiên cổ. Con Không được thấy mặt gia đình lần cuối cũng như không nhận được xác. 

Người thân, cứ thế như sương, như khói biến mất.

Quinhon11 - Tổng họp tin từ nhiều nguồn.

___________________________

Monday, February 17, 2020

CÓ MỘT NGHỆ THUẬT NGỦ

BS. Đỗ Hồng Ngọc 

Trong cuộc sống hiện tại, ai cũng sợ bệnh rồi kiêng đường, kiêng muối và kiêng dầu mỡ,... còn một cái bệnh khác làm tinh thần suy sụp mà nhiều người biết nhưng lại ít sợ. Đó là chứng mất ngủ. Vì cứ nghĩ rằng nếu ngủ không được thì uống vài viên thuốc ngủ vào là ngủ được ngay Nhưng coi chừng đấy, nó có thề làm bạn bị bệnh tâm thần hay và tính khí thay đổi gắt gỏng bất thường.




Sunday, February 16, 2020

Các ông chồng à...

Hãy đối xử tốt với vợ của mình. Bởi cô ấy mới là tài sản cả đời của bạn..


 

Saturday, February 15, 2020

Chia tay lúc tuổi 22

Xem được một tấm hình, đọc được một bài thơ, nghe lại một bản nhạc, nên hứng tình mời quân ta nghe " tâm sự" của những người thuộc lứa tuổi hai mươi mấy, và riêng tặng cho những người có liên quan, lại có cái tên bắt đầu "bằng" chữ gần cuối của 24 chữ cái ( A~ Z)... ( Takenaga Hisahide /  Vũ Đăng Khuê)


Chia Tay Lúc Tuổi 22

Nhạc: Ise Shoyo - Lời Việt: Trần Thụ Ân
Trình tấu: Vũ Đăng Khuê - Lê Văn Dũng - Nguyễn Bá Hỷ.



;

BÍ ẨN SAU MỖI MÙA HOA TRE

Sự ra hoa của cây tre là một hiện tượng thú vị và rất hiếm gặp trong giới thực vật. Hầu hết tre hoa mỗi 60-130 năm/lần và vẫn là một bí ẩn đối với nhiều nhà thực vật học.

.

Hoa tre nở duy nhất một lần trong 120 năm

Bệnh Tâm Thần Kinh Hoảng - Panic Disorder

BS: Nguyễn Văn Đức

Bệnh tâm thần kinh hoảng (panic disorder) là bệnh tâm thần gây những cơn sợ hãi, kinh hoảng rất đặc biệt. Bệnh xảy ra thường lắm, nhiều không kém bệnh suyễn. Dựa theo những trường hợp bệnh được báo cáo, người ta cho rằng cứ trong 100 người, có 1 đến 3 người mang bệnh này (1-3%). Trên thực tế, có lẽ con số này còn cao hơn, vì có nhiều trường hợp bệnh bác sĩ định lầm thành bệnh khác (tưởng rằng bị bệnh suyễn, bệnh tim…).
Bệnh hay bắt đầu trong khoảng tuổi 18 đến 45.
Bệnh tâm thần kinh hoảng gây những ảnh hưởng tai hại trên đời sống của người bệnh, ngang ngửa với bệnh trầm cảm (major depression): cuộc sống mất vui, khả năng làm việc suy giảm, gia đình xáo trộn. Theo một báo cáo, số ngày nghỉ việc của người bệnh tâm thần kinh hoảng cao hơn số ngày nghỉ việc của người bệnh tiểu đường, bệnh tim, bệnh thận.

Bệnh Viện và Nghĩa Trang

Trần Mộng Tú
Trần Mộng Tú, nhà văn, nhà thơ. Hiện sống và viết ở Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ. Nguyên chủ bút nguyệt san Phụ Nữ Gia Đình (California, USA). Đã xuất bản 9 tác phẩm gồm thơ, truyện ngắn, và tản văn. Định cư tại Hoa Kỳ từ 1975.



Bệnh Viện và Nghĩa Trang

Chị thì thầm vào tai anh:

“Còn mấy hôm nữa là rằm tháng Giêng chắc mình phải về nhà chứ.”

 Anh kéo chiếc mền mỏng lên ngang ngực, chiếc mền ngắn quá, lòi cả nửa ống chân ra ngoài. Anh nhìn chung quanh một vòng, ngượng ngùng co chân lại.