Wednesday, April 8, 2026

Những ngày cuối của một thành phố


Ngày 30 tháng Tư năm 1975, Sài Gòn thất thủ. Người ta thường chọn ngày ấy làm dấu chấm hết của một thời. Trong ký ức chung, đó là những khung hình dồn dập. Đó là dòng người chen lấn trước cổng phi trường, trước Tòa Đại sứ Mỹ; những con tàu nặng trĩu người rời bến Bạch Đằng; những cánh trực thăng bay về phía biển, mất hút vào đường chân trời nơi Đệ Thất Hạm Đội đang chờ.
Nhưng cuộc chiến đang chấm dứt, không khép lại ở Sài Gòn. Nó đã vỡ ra từ trước đó, như những đường nứt lan dần trên một tấm kính. Từ Ban Mê Thuột, Pleiku trên cao nguyên, rồi Huế, rồi Đà Nẵng… mỗi nơi là một cơn chấn động, một lần đổ vỡ. Và đến lượt Đà Nẵng, thành phố của tôi, bước vào những ngày cuối cùng của chính mình.
Tôi khi ấy mười sáu tuổi. Một tuổi đời chưa đủ để hiểu chiến tranh, nhưng lại vừa đủ để ghi nhớ nó suốt đời. Tôi lớn lên giữa phố xá, chỉ biết chiến tranh qua trang báo, qua tiếng bom đạn vọng về từ xa như những cơn giông không bao giờ tới gần. Cho đến cuối tháng Ba năm ấy, khi cơn giông bất ngờ ập xuống, không còn ở phía chân trời nữa, mà ngay trên đầu. Người lớn hoang mang cuốn cuồn lo sợ; không biết số phận mình, gia đình mình sẽ đi về đâu? Riêng những người trẻ tuổi 15, 17 như chúng tôi, thì không thể biết hết ý nghĩa của cơn bão đang trùm xuống, nhưng vẫn cảm nhận được rõ rệt một điều: ngày mai sẽ không còn giống hôm qua.
Đà Nẵng cuối tháng Ba. Bây giờ không phải chỉ là những lời rỉ tai đồn đoán bị bỏ lại. Những chiếc xe GMC chở lính sư đoàn dù đã rời thành phố, nghe nói họ được chuyển về bảo vệ phần đất còn lại của miền Nam. Thành phố tràn ngập những người tị nạn từ Quảng Trị, Huế, Tam Kỳ, Hội An… Trường học đóng cửa làm chỗ trú cho dân tị nạn. Từng tốp lính Thủy quân lục chiến, lính các sư đoàn súng ống trên tay, áo quần tả tơi, mắt trũng sâu, lang thang như những bóng ma sau cuộc rút lui đẫm máu từ Thuận An. Đêm xuống, pháo kích từ phía quân đội miền Bắc trút xuống phi trường, bến cảng, cả khu dân cư, xé toang màn đêm và niềm hy vọng cuối cùng.
Chiều 28, tôi đứng trên sân thượng nhìn xuống. Thành phố đặc nghẹt người, hối hả ngược xuôi. Bất chợt, tôi chứng kiến một cảnh tượng mà suốt đời không quên: một người đàn ông dừng xe bên đường ray, cúi xuống tìm vật gì đó. Một người khác tiến lại, rút súng bắn. Người kia gục xuống. Kẻ nổ súng bỏ đi. Lần đầu tiên trong đời, tôi tận mắt thấy “người giết người”. Tôi chết lặng.
Ở phía chợ Cồn thỉnh thoảng vang lên từng loạt đạn. Không biết từ đám bạo loạn lợi dụng thời cơ giết người cướp của hay từ lực lượng bảo vệ còn sót lại. Một chiếc xe thiết giáp chạy về hướng chợ, trên xe có vị sĩ quan mang cấp bậc trung tá tay lăm lăm khẩu súng lục. Loa phóng thanh từ xe thiết giáp cảnh cáo sẽ bắn chết những kẻ xấu. Nghe nói người sĩ quan cấp tá can đảm đó là chỉ huy trưởng của Quân trấn Đà Nẵng (?). Có lẽ đó là vị sĩ quan cao cấp quân đội cuối cùng còn ở lại với người dân trong “giờ thứ 25” của thành phố.
Mấy hôm nay vài gia đình trong xóm tôi đột nhiên biến mất. Vẫn còn những chuyến bay cuối cùng bay vào Sài Gòn. Dưới bến Bạch Đằng, bên cảng Tiên Sa, bãi biển Mỹ Khê đoàn tàu lũ lượt ra khơi. Tôi nhớ có buổi chiều, người cậu họ ghé lại tiệm buôn nhà tôi. Cậu thầm thì khuyên mẹ dẫn chị em tôi theo gia đình cậu xuống bến tàu di tản. Ba mẹ lưỡng lự vì em gái út tôi mới sinh. Vả lại, hàng hóa buôn bán vẫn còn chất đầy cửa tiệm. Ba mẹ tôi tiếc của. Một phần ba tôi tin rằng, “họ” có vào đi nữa thì mình cũng chẳng sao vì gia đình xưa nay chỉ biết buôn bán, không dính dáng đến chính quyền miền Nam. Và ba tôi có một người em tập kết ra bắc năm 1954. Dù sao cũng có người thân để dựa dẫm.
Cậu ôm mẹ nói lời từ giã. Khóe mắt mẹ rưng rưng. Giã biệt trong hoàn cảnh như bây giờ thì biết bao giờ gặp lại. Mà thật vậy, đến 20 năm sau ba mẹ tôi mới gặp lại cậu trên đất Mỹ.
Những ngày cuối cùng, Đà Nẵng cần một phép màu để đứng vững. Nhưng chẳng có phép màu nào đến như lời cầu nguyện của những người dân lành tội nghiệp. Chiều 29 tháng Ba, những chiếc xe tăng bộ đội miền Bắc tiến vào, thành phố ngậm ngùi đổi chủ.
Buổi chiều Đà Nẵng mưa rả rích, tôi đạp xe xuống khu Ngã Năm trung tâm thành phố. Nghe nói lính bên kia đang hiện diện ở đó. Trước khách sạn Đông Phương, những người bộ đội trong quân phục xanh màu đọt chuối. Họ trông lạ hoắc, họ lạc lõng giữa rừng người tò mò đến xem. Vài cô có vẻ là lực lượng du kích đi chân đất, súng lăm le trên tay.
Chiếc mũ tai bèo, đôi dép “râu” lạ lẫm. Tôi mang cảm giác bất an. Bầu trời hôm đó xám nghịt, mưa lâm râm! Tất cả như là điềm báo trước cho một ngày mai tan tác, như hai câu thơ ai đó đã viết nên sau này:
“Đôi dép râu dẫm nát hồn tuổi trẻ
Chiếc mũ tai bèo che khuất nẻo tương lai”
Đoàn xe Molotova vẫn còn lá cây ngụy trang chạy ngoài phố. Khói đen mù mịt, tiếng máy nổ gầm gừ. Những người lính miền Bắc với vẻ mặt ngờ nghệch, mắt dáo dác nhìn hai bên đường. Trên vài chiếc xe jeep quân đội miền Nam bỏ lại, đám thanh niên tay mang băng đỏ thỉnh thoảng nhả vài tràng đạn hăm dọa vu vơ. Họ hò hét điên cuồng trong cơn lên đồng của những kẻ say men mùi chiến thắng. Chiếc băng màu đỏ trên cánh tay họ làm tôi sợ hãi, nó như vệt máu ứa rỉ trên vết thương dân tộc.
Tôi rời khỏi đám đông trước khách sạn Đông Phương. Rẽ ngang đường Bạch Đằng. Tôi một mình ngồi nhìn mưa đổ xuống sông Hàn. Lòng sông sủi tăm màu trắng đục. Những hạt mưa vừa chạm mặt nước bắn tung tóe, nhưng sao tôi không nghe thấy gì cả. Cảnh vật lặng yên, như diễn ra trong một đoạn phim câm. Sự yên lặng mang theo cảm giác sợ hãi. Tôi muốn làm một điều gì đó để trấn an mình. Nhưng biết làm gì? Thời đó tôi chưa hút thuốc! Chiều sẩm xuống, đạp xe về nhà. Tôi lúc đó mới tuổi 16 mà đã buồn vô vọng!
Vài ngày sau xóm nhà tôi, những gia đình không xuống tàu di tản vào nam kịp lục đục trở về. Họ còn may mắn, vì chỉ vài hôm nữa những căn nhà bỏ trống lần lượt bị niêm phong. Không khí giữa xóm giềng dường như không còn thân mật như trước. Một không khí e dè đề phòng sau những đợt mít tinh, học tập chính trị của chính quyền địa phương. Những kẻ nằm vùng trước 1975, và cả lực lượng “30 tháng 4” mới nổi lên đang mở căng mắt dòm ngó làm họ sợ hãi.
30 tháng Tư, Sài Gòn rồi cũng mất. Tháng Năm tôi trở lại trường học. Không khí trong trường thay đổi. Ngoài những thầy cô giáo cũ được cho “lưu dụng”, ban điều hành trường bây giờ toàn là cán bộ được điều từ thành đoàn xuống. Họ có uy quyền tuyệt đối, kể cả quyền cho nghỉ việc một thầy cô giáo nào đó bị nghi ngờ không tin vào cách mạng. Dăm cô cậu học sinh bỗng dưng thay đổi cách ăn mặc, cách nói chuyện, cứ như đã giác ngộ cách mạng từ lâu lắm. Mới hôm qua đây thôi họ là những người bạn, hôm nay họ trở nên lạnh lùng chăm chỉ lên gân phê bình từng cá nhân bị gán cho là thành phần có tư tưởng không tiến bộ. Tôi mệt mỏi vì những buổi họp, những lần học chính trị kéo dài đến vài giờ. Những thuật ngữ mới như “phân biệt địch và ta”, “kiên định lập trường giai cấp”, “ba dòng thác cách mạng”… làm tôi sợ hãi.
Một hai năm đầu sau tháng 4, 1975 đời sống người dân còn tương đối dễ thở. Nhưng sau đó là chủ trương đánh tư sản mại bản, kinh tế mới, rồi phát động chiến tranh biên giới thì miền Nam đã biết thế nào là hệ lụy của việc tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Không chịu nổi đè nén, người trong xóm rủ nhau vượt biên, có gia đình thoát, có gia đình mất con giữa biển. Cuối tháng Ba, năm năm sau ngày định mệnh, tôi xuống ghe ra đi, xem như vĩnh biệt quê nhà.
Thế hệ tôi, những người ở thời điểm tháng tư năm 1975 chỉ độ tuổi 15, 17 có lẽ là những người kém may mắn. Chúng tôi ở giữa cái biết và không biết. Chúng tôi đứng giữa hai bờ của lịch sử, giữa tự do và kiểm soát, giữa ký ức và hiện thực, giữa điều đã mất và điều chưa kịp hình thành.
Chế độ Cộng sản có một từ để diễn tả cái khoảng trung gian chuyển giao giữa hai giai đoạn trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mỗi một 5 năm (kế hoạch ngũ niên). Đó là giai đoạn họ gọi là “giai đoạn bản lề”. Chử “bản lề” thoạt nghe dễ mang cho chúng ta cái cảm giác của tình trạng mắc kẹt, của sự chèn ép đến vỡ nát te tua. Như ngón tay bị kẹp trong bản lề cánh cửa vừa khép lại, đau nhức đến tím tái. Có thể nói, thế hệ chúng tôi nằm trong một giai đoạn “bản lề” khốn khổ mà hoàn cảnh đã gây nên. Một thế hệ kém may mắn.
Nửa thế kỷ đã trôi qua.
Thời gian không ào ạt. Nó chảy lặng lẽ như một con sông dài. Mang theo con người đi qua những bến bờ khác nhau. Để rồi một ngày ngoảnh lại thấy mình đã ở rất xa nơi đã bắt đầu. Từ cậu bé mười sáu tuổi năm ấy, tôi giờ đã gần bảy mươi. Những giận dữ, những mất mát, những điều tưởng như không thể nguôi ngoai rồi cũng lắng xuống. Không phải vì quên, mà vì thời gian đã dạy con người cách đặt chúng vào một khoảng lặng sâu hơn.
Quê hương cũng đổi thay. Thế giới cũng đổi thay. Giờ đây, chỉ cần một chiếc điện thoại, tôi có thể nhìn thấy bạn bè mình ở bên kia bán cầu. Họ uống cà phê buổi sáng, họ hát karaoke với nhau buổi chiều. Những điều giản dị ấy, ngày xưa là cả một khoảng cách không thể vượt qua.
Công nghệ đã nối lại những gì địa lý từng chia cắt. Lòng người bỗng hóa gần nhau hơn. Nhưng có một điều, tôi vẫn tự hỏi. Rồi mai này, khi thế hệ chúng tôi không còn nữa, ai sẽ nhớ. Nỗi nhớ không phải bằng dữ liệu chứa trên đám mây công nghệ, mà bằng cảm xúc, về những ngày ấy?
Những ngày mà một thành phố hấp hối.
Một tuổi trẻ hoang mang.
Một đời người rẽ sang hướng khác chỉ trong vài ngày ngắn ngủi.
Liệu ký ức có còn là ký ức, nếu không còn ai mang nó trong tim? Hay tất cả rồi sẽ trở thành những dòng chữ ngay ngắn, những con số chính xác, nhưng không còn hơi ấm?
Trong tương lai, trí tuệ nhân tạo sẽ tiến xa đến đâu, và sẽ chi phối con người đến mức nào? Tôi không biết. Chỉ biết rằng, ký ức không thể nằm trong máy móc. Nó nằm trong con người. Trong cách một người kể lại, và một người khác lặng im lắng nghe. Trong một ánh mắt chợt buồn khi nhắc đến một cái tên cũ. Có những thứ không cần lớn lao để tồn tại. Chúng chỉ cần được gìn giữ bằng trái tim.

27/3/2026. Viết lại một lần rồi thôi,

Trương Hữu Hiền 
https://www.facebook.com/share/p/1AbogDkHvz/

_____________________

Tuesday, April 7, 2026

Cynthia Lennon - Người chọn chữa lành thay vì trừng phạt ..

.
Cô bước vào chính ngôi nhà của mình và thấy chồng nằm trên sàn với một người phụ nữ khác, người đang mặc chính chiếc áo choàng ngủ của cô.

Cô mời họ ăn tối.

Đó là tháng 5 năm 1968. Cynthia Lennon vừa trở về sau kỳ nghỉ ở Hy Lạp. Khi bước vào căn nhà Kenwood ngôi nhà gia đình ở Weybridge, cô thấy chồng mình, John, đang ngồi khoanh chân trên sàn với Yoko Ono. Họ nhìn sâu vào mắt nhau.

Yoko đang mặc chính chiếc áo choàng tắm của Cynthia.

Đôi dép đặt ngoài cửa phòng ngủ đã nói lên phần còn lại của câu chuyện.

Điều Cynthia làm tiếp theo không giống bất cứ điều gì người ta có thể tưởng tượng.

Cô không la hét.

Cô không gục ngã.

Cô không ném bất cứ thứ gì.

Trong trạng thái sốc mà chính cô cũng không hiểu nổi, cô chỉ hỏi:

Hai người có muốn ăn tối không?

Cô vừa ăn sáng ở Hy Lạp, ăn trưa ở Rome vậy họ có muốn ăn tối cùng cô ở London không?

Đó là câu nói kỳ lạ nhất trong cuộc đời cô. Sau này cô viết rằng nó ám ảnh cô suốt nhiều năm.

“Đối diện với chồng mình và người tình của anh ta đang mặc áo choàng của tôi, cư xử như thể tôi mới là người lạ xâm nhập, tất cả những gì tôi có thể làm là tiếp tục hành xử như thể mọi thứ vẫn bình thường,” cô viết.

“Tôi bị sốc, như đang hoạt động theo bản năng.”

Điều khiến khoảnh khắc đó không thể chịu đựng không chỉ là sự phản bội.

Mà là sự tính toán.

John biết ngày hôm đó cô sẽ về nhà. Cảnh tượng đó đã được sắp đặt. Cô được định sẵn để nhìn thấy họ.

Ngày hôm sau, John hôn lên má cô như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Anh nói anh yêu cô. Anh nói Yoko không có ý nghĩa gì.

Anh cũng từng nói như vậy về những người phụ nữ khác mà anh đã thú nhận trong chuyến bay say rượu từ Ấn Độ vài tuần trước, những fan nữ, bạn bè, “hàng ngàn người”, anh nói, trong khi cô ngồi bên cạnh gần như không thở nổi.

Nhưng Cynthia biết.

Lần này khác.

Đây là dấu chấm hết.

Điều xảy ra sau đó là phần mà lịch sử thường quên nhắc đến.

Cynthia Lennon không trở thành người vợ cũ cay đắng như báo lá cải mong muốn.

Và cô có đủ lý do để trở nên cay đắng.

John nộp đơn ly hôn và ban đầu còn cố đổ lỗi cho cô cáo buộc cô ngoại tình với một người tên Roberto Bassanini.

Khi cô phủ nhận, John phải nhượng bộ và chấp nhận ly hôn với lý do chính anh ngoại tình với Yoko Ono.

Trong thỏa thuận ly hôn, John đề nghị cô 75.000 bảng Anh. Anh nói qua điện thoại rằng nó giống như trúng xổ số bóng đá.

“Cô không đáng giá hơn thế đâu,” anh nói.

Thỏa thuận cuối cùng là:

 • 100.000 bảng Anh

 • Quyền nuôi con Julian

 • Một khoản trợ cấp nhỏ hằng năm

Một trăm ngàn bảng.

Từ một trong những nhạc sĩ giàu nhất thế giới.

Cynthia nhận số tiền đó và rời đi.

Cô không bán những bí mật cay đắng.

Cô không chạy theo scandal.

Cô không cố phá hủy huyền thoại mà thế giới đang xây dựng quanh người đàn ông mà cô hiểu rõ hơn bất cứ ai.

Thay vào đó, cô chuyển đến Wales.

Cô mở một nhà hàng nhỏ kiêm nhà nghỉ ở thị trấn Ruthin. Cô đặt tên là Oliver’s Bistro. Cô cho Julian học tại trường Ruthin School và cho con một cuộc sống ổn định, bình thường, tránh xa cơn điên cuồng của Beatlemania.

Trong khi John xuất hiện trên bìa mọi tạp chí, Cynthia đang nấu ăn cho khách lạ trong một ngôi làng nhỏ và đảm bảo con trai làm bài tập.

Và đây là điều thế giới nên biết về Paul McCartney.

Khi John rời đi, Paul không rời bỏ họ.

Ông lái chiếc Aston Martin đến thăm Cynthia và Julian. Ông mang theo một bông hồng đỏ. Ông đùa:

“Thế nào Cyn? Em cưới anh nhé?”

Họ cùng cười.

Trong chuyến lái xe đó, Paul bắt đầu viết một bài hát.

Ban đầu nó tên là Hey Jules ,một thông điệp dành cho cậu bé 5 tuổi có người cha vừa rời bỏ mình.

Đừng làm mọi thứ tệ hơn.

Hãy biến một bài hát buồn thành tốt đẹp hơn.

Paul đổi Jules thành Jude vì nghe hay hơn.

Bài hát đó trở thành đĩa đơn bán chạy nhất lịch sử Beatles.

Julian chỉ biết bài hát viết về mình sau 20 năm.

Nhiều năm sau, Julian nói:

“Paul và tôi từng chơi với nhau khá nhiều, nhiều hơn cả tôi với bố. Có nhiều hình tôi chơi với Paul hơn là hình tôi với bố.”

Năm 1978, Cynthia xuất bản hồi ký đầu tiên: A Twist of Lennon.

John cố ngăn việc xuất bản.

Đó không phải sách trả thù. Người đọc ngạc nhiên vì sự ấm áp, hài hước và không cay đắng. Sách bán vừa phải, cho đến khi John bị ám sát hai năm sau, khi đó sách được in lại 200.000 bản.

Năm 2005, cô xuất bản cuốn thứ hai: John.

Lần này cô thẳng thắn hơn.

Cô viết về sự tàn nhẫn, ngoại tình và bạo lực của anh. John từng tát cô mạnh đến mức cô đập vào tường. Sau này John thừa nhận mình là người hay đánh phụ nữ.

Cynthia viết tất cả.

Nhưng ngay cả khi đó, trong những trang sách vẫn có nhiều tình yêu hơn là giận dữ.

Cô muốn thế giới thấy con người thật phía sau huyền thoại.

Một chàng trai tài năng, tổn thương, phức tạp mà cô gặp trong lớp học vẽ chữ tại trường nghệ thuật Liverpool.

Khi John bị sát hại ngày 8/12/1980, Cynthia đang ở Ruthin điều hành nhà hàng.

Cô không dùng sự kiện đó để trả thù.

Cô đau buồn cho người đàn ông cô từng yêu. Người cha của con cô.

Cô nói với báo chí:

“Anh ấy đã mở lòng mình cho cả thế giới nhìn thấy.”

Julian, khi đó 17 tuổi, trở về từ New York sau thời gian ở với Yoko và Sean. Cynthia thấy con trai suy sụp. Cô lo con rơi vào trầm cảm.

Cô giữ con đứng vững.

Đó là điều cô luôn làm.

Giữ vững.

Tiếp tục sống.

Không để đổ vỡ định nghĩa cuộc đời mình.

Cynthia Lennon qua đời ngày 1/4/2015 tại nhà ở Mallorca, Tây Ban Nha. Julian ở bên cạnh. Bà 75 tuổi. Bà đã chiến đấu với ung thư một thời gian ngắn.

Paul McCartney nói:

“Cô ấy là một người phụ nữ tuyệt vời mà tôi đã biết từ những ngày đầu ở Liverpool.”

Ringo Starr gửi lời cầu chúc bình an và yêu thương.

Và Yoko Ono, người phụ nữ trong chiếc áo choàng năm xưa viết:

“Tôi rất buồn khi Cynthia qua đời. Cô là người tuyệt vời và là một người mẹ tuyệt vời của Julian. Tôi tự hào về cách hai chúng tôi đã đứng vững trong gia đình Beatles.”

Cynthia Lennon chưa bao giờ chỉ là một chú thích nhỏ trong lịch sử Beatles.

Bà là người phụ nữ chứng minh rằng bạn có thể rời khỏi đau đớn mà không trở thành chính thứ đã làm bạn tổn thương.

Bà chọn sự bình yên, không phải loại dễ dàng vì không quan tâm, mà là loại khó khăn vì chọn chữa lành thay vì trừng phạt.

Bà cho thấy phẩm giá không phải thứ ai có thể lấy đi.

Chỉ có thể tự mình đánh mất.

Và bà chưa bao giờ đánh mất nó.

Trong thời đại mà ai cũng muốn là người lớn tiếng nhất, sức mạnh thầm lặng của Cynthia Lennon vẫn vang vọng hơn bao giờ hết.

Bà là người đầu tiên yêu John Lennon.

Và là người cuối cùng mất anh một cách đầy nhân phẩm.

Trong một câu chuyện nơi ai cũng cố được lắng nghe, bà chọn im lặng.

Và chính sự im lặng đó đã nói lên tất cả.

My Lan Phạm Theo True Story 

 https://www.facebook.com/share/17pQEn6o9u/?mibextid=wwXIfr

___________________________

Monday, April 6, 2026

Chứng Ù Tai

Triệu Minh

Ù tai (tinnitus) – cảm giác nghe thấy tiếng reo, ù, rít hoặc những âm thanh khác trong một hoặc cả hai tai – là một vấn đề khá phổ biến khi tuổi tác tăng, đặc biệt nếu bạn bị suy giảm thính lực. Người lớn tuổi có vấn đề về thính giác có thể bị ù tai cao gấp đôi những người có thính lực bình thường.

Sunday, April 5, 2026

VÌ SAO TRÊN THẾ GIỚI CHỈ CÓ 4 QUỐC GIA SẢN XUẤT ĐƯỢC ĐẦU BÚT BI?

Hiện nay, trên thế giới chỉ có Thụy Sĩ, Đức, Nhật BảnTrung Quốc nắm giữ công nghệ sản xuất đầu bút bi.

Nhỏ bé hơn cả một hạt đậu nhưng đầu bút bi lại là sản phẩm công nghệ khiến nhiều cường quốc công nghiệp phải bó tay. 
Mỗi năm, thế giới tiêu thụ hàng chục tỷ chiếc bút bi, nhưng chỉ có vỏn vẹn 4 quốc gia đủ khả năng sản xuất trọn vẹn phần đầu bút. Đó là Đức, Thụy Sĩ, Nhật Bản và gần đây là Trung Quốc. Câu chuyện tưởng chừng đơn giản này cho thấy sự khắc nghiệt của công nghệ trong những chi tiết nhỏ nhất.

Saturday, April 4, 2026

TỤC NGỮ: "KHÔN ĐÂU ĐẾN TRẺ, KHỎE KHÔNG ĐẾN GIÀ", Ý NGHĨA SÂU XA LÀ GÌ?

.

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, có những câu nghe qua tưởng đơn giản nhưng càng sống lâu càng thấy đúng, thấy thấm. “Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già” là một trong những câu như thế. Chỉ vỏn vẹn vài chữ, nhưng chứa đựng cả một triết lý nhân sinh về tuổi tác, sự trưởng thành và quy luật tự nhiên mà chẳng ai có thể cưỡng lại.

Friday, April 3, 2026

Câu chuyện Đông Kinh

Đinh Yên Thảo

Poster phim
Đông Kinh. Những tòa nhà cũ kỹ, những nhà ga, xe lửa xả khói mù mịt, những căn nhà chật chội, dây phơi đồ. Đó là hình ảnh một nước Nhật lạc hậu của những năm hậu chiến vào đầu thập niên 50s. “Câu chuyện Đông Kinh” (Tokyo Story-1953) ra đời và được dựng theo bối cảnh thời gian này về lòng mẹ cùng mối quan hệ gia đình trong một đại gia đình trung lưu.

Phim kể về một cặp vợ chồng già, sống cùng cô con gái út là một cô giáo tại một vùng quê xa xôi. Họ lặn lội lên thăm con cháu tại Tokyo đã lâu không gặp, nơi có con trai làm bác sĩ và con gái là chủ một tiệm tóc nhỏ ngay tại nhà. Dù mừng vui gặp lại cha mẹ, sự xuất hiện của ông bà phần nào mang lại sự bất tiện cho lịch trình vốn luôn tất bật công việc của những người con, phần nhà cửa chật hẹp.

Thursday, April 2, 2026

Một bát bún riêu "ăn cho nhẹ bụng" bằng 70 phút chạy bộ

Minh Nhật

(DT) - Bún riêu là món quen thuộc, được nhiều người lựa chọn vì cảm giác thanh nhẹ, dễ ăn. Tuy nhiên, theo số liệu lượng calo trong 1 bát bún riêu có thể cao hơn nhiều người tưởng.
Bún riêu không "nhẹ bụng" như nhiều người nghĩ

Bún riêu từ lâu được xem là lựa chọn phổ biến cho bữa sáng hoặc bữa trưa nhanh gọn. Nước dùng chua thanh, riêu cua mềm, ăn kèm rau sống khiến nhiều người tin rằng đây là món “ăn không sợ béo”.