Sunday, September 23, 2018

Tuổi Xuân Huy Hoàng, Tuổi Già Hiu Quạnh.

Cuộc đời của một chính trị gia khiến người ta nhận ra chân lý vĩnh hằng

Margaret Thatcher là nữ thủ tướng đầu tiên của Anh quốc, cũng là một trong những chính trị gia quyền lực nhất trong lịch sử, được truyền thông gọi là “Người đàn bà thép” (Iron Lady) của nước Anh. Nhưng đằng sau hào quang chính trị, “người phụ nữ thép” ấy lại phải chịu đựng nỗi buồn vô tận của sự cô độc và bi ai.




Có sự nghiệp và tình yêu, nhưng thất bại khi làm mẹ
Thatcher từng nói rằng, trong thế hệ của bà, sẽ không có một người phụ nữ nào trở thành thủ tướng. Nhưng chính bà lại làm được điều ấy. Bà không chỉ trở thành nữ thủ tướng đầu tiên ở Anh, chứng minh rằng phụ nữ có thể đặt chân lên bục vinh quang vốn thuộc về nam giới, mà còn làm được điều mà nam giới không thể làm.

Thời trẻ, Thatcher học hành rất chăm chỉ, nhờ vào nghị lực và sự kiên trì bền bỉ, bà đã thi đậu vào trường đại học Oxford. Thatcher đã trở thành nữ ứng cử viên của Đảng Bảo Thủ ở tuổi 25.

Vào thời điểm này, bà gặp Denis, một thương nhân giàu có đang điều hành tập đoàn của gia đình. Denis yêu Thatcher ngay từ cái nhìn đầu tiên, lúc ấy là một cô gái trẻ xinh đẹp và có đầu óc chính trị. Không lâu sau hai người tiến đến hôn nhân, sau hai năm kết hôn họ sinh được đôi long phụng – một trai, một gái.

Nhưng bà mẹ trẻ như Thatcher không có nhiều thời gian dành cho con cái. Khi cặp song sinh mới được hơn hai tuần tuổi, bà lập tức quay trở lại với sự nghiệp chính trị của mình. Lúc ấy, Denis luôn ở phía sau âm thầm ủng hộ vợ, Thatcher đạt được hạnh phúc viên mãn trong hôn nhân nhưng trong quan hệ với con cái bà lại là một người mẹ thất bại.

Bà bận rộn với các hoạt động chính trị, bỏ bê việc giáo dục con cái, cuối cùng trở thành trường hợp “mẫu từ tử bại”, ý nói mẹ tài giỏi nhưng con thì thất bại.

Những năm cuối đời, Thatcher từng nói rằng: “Nếu thời gian có thể quay ngược lại, tôi tuyệt đối sẽ không bước chân vào đấu trường chính trị, vì gia đình tôi đã phải trả giá quá đắt cho điều ấy”. 





Cựu thủ tướng Anh Margaret Thatcher (Ảnh: Flickr, Anne Adrian)

Bởi vì trong suốt sự nghiệp, Thatcher luôn bận rộn với các hoạt động chính trị, đến mức không còn thời gian và tâm trí dành cho con cái. Quan hệ giữa bà với cô con gái Carol vô cùng lạnh nhạt; mặc dù cậu con trai Mark gần gũi hơn nhưng lại không cho bà được nở mày nở mặt. Cậu bé ham chơi, lười học, chẳng những thành tích học tập kém mà còn ỷ lại vào quyền thế của mẹ mà tỏ ra cao ngạo, thường “xưng vương xưng bá” trong những năm học đường.

Sau khi trưởng thành, Mark tham gia cuộc đua xe Paris-Dakar Rally năm 1982, sau đó bị lạc nhiều ngày trong sa mạc Sahara. Đây là lần đầu tiên kể từ khi tiếp nhận vị trí thủ tướng, Thatcher rơi nước mắt trước mặt công chúng. Bà đã phải chỉnh cầu chính phủ các nước giúp đỡ để giải cứu con trai.

Sau khi được cứu, con trai của Thatcher lại tiêu phí một lượng rượu lớn trong khách sạn nhưng không chịu chi trả. Cậu cho rằng việc chính phủ giải quyết giúp mình là điều đương nhiên nên không ngừng tranh chấp với ban ngoại giao và các nhân viên khách sạn, cuối cùng cảnh sát phải đích thân can thiệp.

Những năm sau đó, Mark lại mượn địa vị của mẹ và tiền tài của vợ mà không ngừng chơi bời, tham gia các hoạt động mạo hiểm, tiêu tiền tốn của. Khi tham gia vào cuộc đảo chính ở Guinea, cậu bị bắt ở Nam Phi và bị kết án 4 năm tù treo cùng với khoản tiền phạt khoảng 313.000 bảng Anh. Bà Thatcher cũng buộc phải cầm tiền đi Nam Phi để chuộc con trai về.

Những năm cuối cùng khiến người đời cảm thán mãi không thôi
Thủ tướng Thatcher từng nói rằng, nhà là nơi mà bạn không cần phải làm bất cứ điều gì.

Trong ngày kỷ niệm 50 năm kết hôn, Thatcher bất ngờ đột quỵ và mất đi một phần ký ức. Hai năm sau chồng bà qua đời, đó là cú sốc mạnh đối với Thatcher khiến trí nhớ của bà ngày càng kém hơn, bà thường nghĩ rằng ông vẫn còn sống trên đời. Nỗi đau mất chồng không hề thuyên giảm theo thời gian, có một lần tỉnh dậy giữa đêm khuya, bà đã khoác lên mình một bộ quần áo trang trọng, rồi đi đến viếng mộ phần của ông.

Trong lễ sinh nhật lần thứ 77, Thatcher nhận được bốn tấm thiệp chúc mừng, bà bày chúng lên bàn và đăm chiêu ngắm nhìn. Lúc ấy, con trai bà sống ở Tây Ban Nha, con gái thì ở Thụy Sĩ, những đứa cháu đang ở Mỹ, tất cả những người thân yêu đều hiếm khi trở về thăm bà. Carol, con gái của Thatcher tâm sự: “Một người mẹ không thể mong đợi những đứa con đã trưởng thành của mình bỗng chốc trở nên vồn vã, nồng ấm – điều mà chúng không quen”. Đánh đổi cho những năm tháng huy hoàng trên vũ trường chính trị là một tuổi già cô đơn, hiu quạnh. Bà không thể hy vọng được vui hưởng tuổi già bên con cháu, thậm chí một mơ ước con cái sẽ trở về thăm nhà cũng là mơ ước quá xa vời. Đời người giống như một vòng quay tuần hoàn, khoảng thời gian không có người thân bên cạnh ai ai cũng từng trải qua, với Thatcher là những năm cuối đời trống trải, còn với các con của bà là một tuổi thơ thiếu vắng hình bóng mẹ.

Vào lễ đại thọ ba năm sau, có lẽ vì quá tưởng nhớ đến những ngày tháng nhộn nhịp trước kia, nên bà đã tổ chức đại tiệc với 650 khách tham dự, ngay cả Nữ hoàng Elizabeth II, Hoàng tử Charles và Thủ tướng Tony Blair đều đến chúc thọ bà. Thatcher đã lấy lại phong thái năm xưa, vẫn là nụ cười tự tin như ngày nào, nhưng đáng tiếc tất cả chỉ giống như một ánh đèn loé lên trong phút chốc.

Còn lại bên bà, vẫn là màn đêm tịch mịch và những căn phòng hoang vắng không một bóng người thân.

Ở tuổi xế chiều, nhà mới là nơi cuối cùng chúng ta trở về
Trong những năm tháng dài dằng dặc cùng với nỗi cô độc lúc cuối đời, Thatcher lại bị đột quỵ. Mọi thứ đối với bà đều trở thành thử thách, ngay đến xem báo cũng rất khó khăn, vừa đọc câu sau đã quên câu trước. Ở tuổi xế chiều, Thatcher phải chịu nỗi khổ về tinh thần, cơ thể cũng bị bệnh tật tàn phá, lại còn phải chịu đựng sự lạnh nhạt và xa cách của con cái.

Trong phòng, bà đặt rất nhiều bức ảnh của chồng, con, và các cháu. Nhưng bên cạnh bà lại không có bất cứ người thân nào, làm bạn với bà chỉ có bác sĩ và y tá. Cho đến phút lâm chung, con trai, con gái cũng không có mặt kịp thời để lo lắng hậu sự cho bà.

Những năm cuối đời của Thatcher thật khiến người đời phải cảm thán, nhưng làm sao trách được mệnh Trời? Ai ai cũng phải sống cho xã hội, cho thân nhân, và cho chính mình. Những năm tháng son trẻ khiến con người ta chìm đắm trong sự nghiệp, trong danh vọng và hào quang của quyền lực. Nhưng khi ánh hào quang ấy qua đi, ta chỉ còn lại ta, chỉ còn lại cái thân xác đã hao mòn vì năm tháng. Vậy thì, đâu mới là cuộc sống đích thực của chúng ta? Là tuổi trẻ ước mơ hoài bão, là những năm tháng phồn hoa, là vinh quang tột đỉnh, hay là một tinh thần thản đãng và bình yên?

Với cố thủ tướng Anh Margaret Thatcher, có lẽ bà là người thấu hiểu hơn ai hết rằng: Sự nghiệp có thể cho chúng ta danh tiếng, địa vị và cảm giác thành tựu. Nhưng đến lúc chúng ta cởi bỏ chiếc áo choàng danh vọng ấy, thì trong đêm khuya một mình thanh tĩnh cũng là lúc chúng ta hiểu rằng ai cũng sẽ dần dần già đi. Danh tiếng cuối cùng rồi cũng sẽ phai nhạt, cảm giác thành tựu rồi cũng dần tan biến. Tiền dẫu còn giữ lại được, thì khi già cả yếu ớt, cả núi vàng biển bạc cũng không thể mang lại hạnh phúc. Cuối cùng, chỉ có gia đình mới là nơi trở về, nơi cho ta nương tựa.





Lúc bị thương, nhà là một chiếc ô che mưa chắn gió, lúc vui vẻ nhà là nơi hạnh phúc ấm áp đong đầy. Sự nghiệp không thể nào thay thế cho tình người, công danh cũng không thể thay thế cho một gia đình hạnh phúc. Đáng tiếc đến giai đoạn cuối cùng của cuộc đời, rất nhiều tỷ phú và những chính trị gia quyền lực mới nhận ra điều này.

Mong rằng những ai đọc bài viết này sẽ hiểu được, tiền tài, danh tiếng chỉ là những thứ nhất thời, đều không thể đem lại cho chúng ta hạnh phúc lâu dài, chỉ có gia đình mới là nơi chúng ta dựa dẫm cả đời, là nơi đáng tin cậy và là nơi cuối cùng chúng ta đi về.

Nguyện cho những ai đọc bài viết này đều cùng gia đình sống hòa thuận, hạnh phúc một đời.

Theo Soundofhope
Thanh Bình

_____________________________

Saturday, September 22, 2018

Rừng U Minh

Trần Mộng Tú



Cơn mưa tháng Tư mang theo những cánh hoa đào bay lả tả, lòng tôi cũng bay lả tả, đây là thời điểm lòng tôi chùng xuống như cái lưới nhện mong manh, bị ai đó ném vào một vật gì, cái mạng không đứt hẳn, nó chũng xuống, rồi lại bật lên. Tôi lao đao cả phận đời mình theo nó.

 Khi tháng Tư về tôi nhận được từ các bạn rất nhiều những hình ảnh, thơ văn, nhạc, về cuộc chiến, về quê hương nước Việt. Mỗi bài gửi vào lòng người di tản một nỗi đau khác nhau, với tôi, những câu hát Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ U Minh của Nguyễn Tiến Cung (*)nó ở lại trong tôi lâu nhất, tôi nhớ và hay hát một mình trong những ngày “một mình đi dưới mưa.”(Tôi không biết có bao nhiêu người bạn của tôi biết về bài thơ này)

Ta không thấy em từ bấy lâu nay
Mùa mưa làm rừng đước dâng đầy
Trên cao gió hát mây như tóc
Tràm đứng như em một dáng gầy


Bài thơ này được phổ nhạc và với giọng hát của Khánh Ly đã làm tôi mỗi lần nghe là một lần ứa nước mắt. Khánh Ly có giọng hát của một người kể chuyện, khi Khánh Ly hát một bản nhạc tình thì nghe như cô kể chuyện tình yêu của cô hay của bạn hữu. Khi cô hát một bài có tiếng đại bác, có hỏa châu thì đúng là cô kể chuyện chiến tranh. Nhưng riêng bài Rừng U Minh này, không hề có tiếng súng, tiếng đạn (có chăng chỉ là tiếng đạn nổ lùng bùng trong cái nòng ướt,) không một ai chết cả, cũng không có cả hỏa châu, khăn tang, máu và nước mắt nhưng bài hát được cất lên, ta được nghe cả tác giả và ca sĩ cùng kể chuyện chiến tranh. Cả hai kể chậm rãi, bình thản nhưng người nghe thấy xót xa, cảm nhận được cái buồn, cái bất lực của một cuộc chiến và thương cho những con người đang mắc trong cái chuyện kể rất buồn này.

Người lính kể chuyện chiến tranh chỉ quẩn quanh về tiếng đạn nổ lùng bùng trong nòng súng ướt, anh than cái quần trây-di( treillis) của anh bị nhuộm vàng vì nước phèn, anh kể lể về những con rạch, những giòng sông anh đi qua, để lại xót xa, nhưng anh không nói rõ cái xót xa từ đâu đưa tới. Anh nói về mùa mưa làm nước dưng lên ướt ngập cánh rừng tràm anh đi qua. Anh nói về những cơn gió và đám mây như tóc của một người con gái, những cây tràm gầy gầy như em, chữ em anh thốt lên cho ta biết anh có một người yêu và anh đã không được gặp người yêu trước khi anh đi, rồi anh tự an ủi mình, đừng nhớ nữa về một tình yêu đã xa.

Ta không thấy em một lần đi
Nước phèn vàng nhuộm quần trây-di
Đạn nổ lùng bùng trong nòng ướt
Tình đã xa rồi thôi nhớ chi


Anh viết những dòng về chuyện chiến tranh nhưng không có hình ảnh chiến tranh, không nghe tiếng khóc, cái vết thương chiến tranh của anh nó lạnh lùng, tàn nhẫn một cách kín đáo. Nó xóa mất những thành phố ồn ào, nó lấy hết sinh lực tuổi trẻ. Cuộc chiến già nua hay chính anh già nua theo cuộc chiến

Mỗi con lạch là mỗi xót xa
Mỗi giòng sông là mỗi tuổi già
Thành phố đâu đây hình mất dạng
Cuộc chiến già nua theo tiếng ca…

Và Khánh Ly đã rời rã, tiếng một, kể chuyện chiến tranh anh ghi chép đó. Chuyện chiến tranh không hề có bom rơi , lửa cháy, mà nó chỉ lạnh lùng xóa đi những thành phố.

 Bây giờ anh ở đâu sau 43 năm? Cuộc chiến không còn già nua nữa, nó đã chết hẳn, nó đã chôn theo bao nhiêu khẩu súng, bao nhiêu bộ quần áo treillis nhuộm phèn mục nát. Người con gái gầy gầy như cây tràm, người lính trẻ buồn bã đó, cả hai còn sống hay đã chết. Tôi mong là anh đã chết, như thế thì đỡ đau đớn cho anh hơn vì nếu sống sót cái “ rừng U Minh ngập nước những ngày mưa đó không bao giờ ra khỏi anh được. Cái thành phố mà anh nghĩ là mất hình mất dạng đó thì nó vẫn còn, nhưng đã thay xương đổi thịt, anh sẽ chẳng thể nào nhận diện ra và người con gái ngày đó của anh bây giờ cũng bằng cách này hay cách khác không còn hiện hữu nữa. Chiến tranh đã đốn ngã cả những gốc tràm gầy và đẹp nhất. 

Nếu bằng một phép lạ nào đó anh hãy còn sống, xin anh hãy quên đi, quên tất cả đi. 

 tmt Tháng 4/2018
http://tranmongtu.blogspot.com

______________________________

Friday, September 21, 2018

Ký Ức Ngày Xưa… !


Phạm Văn Phước


(ảnh: Internet)

Ký ức về những bài học thuộc lòng thời còn là học sinh thập niên 1950, 1960. Dân miền Nam, những ai bây giờ chừng 55 tuổi trở lên, chắc đều nhớ rõ cách tổ chức độc đáo ở các lớp bậc Tiểu Học cách đây hơn bốn thập niên. Hồi đó, cách gọi tên các lớp học ngược lại với bây giờ, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Lớp Năm là lớp Một ngày nay, rồi đến lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, trên cùng là lớp Nhứt. Lớp Năm, tức là lớp thấp nhất, thường do các Thầy Cô giỏi nhất hoặc cao niên, dồi dào kinh nghiệm nhất phụ trách. Sở dĩ như vậy là vì bậc học này được xem là vô cùng quan trọng, dạy học trò từ chỗ chưa biết gì đến chỗ biết đọc, biết viết, biết những kiến thức cơ bản đầu tiên, nghĩa là biến từ chỗ không có gì đến chỗ bắt đầu có.

Học trò, không phân biệt giàu nghèo, khi đến lớp, chỉ được dùng một thứ bút duy nhất là bút ngòi lá tre. Gọi là lá tre bởi vì bút có cái ngòi có thể tháo rời ra được, giống hình lá tre nho nhỏ, khi viết thì chấm vào bình mực. Bình mực thường là mực tím, có một cái khoen nơi nắp để móc vào ngón tay cho tiện. Thân bình bên trong gắn liền với một ống nhựa hình phểu, dưới nhỏ, trên to để mực khỏi sánh ra theo nhịp bước của học trò. 

Khi vào lớp thì học trò đặt bình mực vào một cái lỗ tròn vừa vặn, khoét sẵn trên bàn học cho bình mực khỏi ngã, đổ. Bút bi thời đó đã có, gọi là bút nguyên tử, là thứ đầy hấp dẫn đối với học trò ngày ấy, nhưng bị triệt để cấm dùng. Các Thầy Cô quan niệm rằng rèn chữ là rèn người, nên nếu cho phép học trò lớp nhỏ sử dụng bút bi sớm thì sợ khi học trò lớn lên, chúng sẽ dễ sinh ra lười biếng và cẩu thả trong tính cách chăng. Mỗi lớp học chỉ có một Thầy hoặc một Cô duy nhất phụ trách tất cả các môn. Thầy gọi trò bằng con, và trò cũng xưng con, chứ không xưng em với Thầy. Về việc dạy dỗ, không Thầy nào dạy giống Thầy nào, nhưng mục tiêu kiến thức sau khi học xong các cấp lớp phải bảo đảm như nhau. Thí dụ như học xong lớp Năm thì phải đọc thông, viết thạo, nắm vững hai phép toán cộng, trừ; lớp Tư thì bắt đầu tập làm văn, thuộc bảng cửu chương để làm các bài toán nhân, chia… 

Sách giáo khoa cũng không nhất thiết phải thống nhất, nên không có lớp học nào giống lớp nào về nội dung cụ thể từng bài giảng… Cứ mỗi năm lại có các Ban Tu Thư, có thể là do tư nhân tổ chức, soạn ra những sách giáo khoa mới, giấy trắng tinh, rồi đem phân phối khắp các nhà sách lớn nhỏ từ thành thị cho chí nông thôn. Các Thầy Cô được trọn quyền lựa chọn các sách giáo khoa ấy để làm tài liệu giảng dạy, miễn sao hợp với nội dung chung của Bộ Giáo Dục là được. Tuyệt nhiên không thấy có chuyện dạy thêm, học thêm ở bậc học này nên, khi mùa hè đến, học trò cứ vui chơi thoải mái suốt cả mấy tháng dài. Các môn học ngày trước đại khái cũng giống như bây giờ, chỉ có các bài học thuộc lòng trong sách Việt Văn, theo tôi, là gây ấn tượng hơn nhiều. Đó là những bài thơ, những bài văn vần dễ nhớ, rất sâu sắc về tình cảm gia đình, tình yêu thương loài vật, tình cảm bạn bè, tình nhân loại, đặc biệt là lòng tự tôn Dân Tộc Việt.

Tôi còn nhớ rõ trong sách Tân Việt Văn lớp Năm có bài học thuộc lòng thật hay về bóng đá mà hồi đó gọi bằng từ rất hoa mỹ là túc cầu:

Trận Cầu Quốc Tế

Chiều chưa ngã, nắng còn gay gắt lắm
Hai đội cầu hăng hái tiến ra sân
Tiếng hoan hô thêm dũng mãnh bội phần
Để cổ võ cho trận cầu quốc tế.
Đoàn tuyển thủ nước nhà hơi nhỏ bé
Nếu so cùng cầu tướng ở phương xa
Còi xuất quân vừa lanh lảnh ban ra
Thì trận đấu đã vô cùng sôi nổi.
Tiền đạo ta như sóng cồn tiến tới
Khi tạt ngang, khi nhồi bóng, làm bàn
Khiến đối phương thành rối loạn, hoang mang
Hậu vệ yếu phải lui về thế thủ
Thiếu bình tỉnh, một vài người chơi dữ
Nên trọng tài cảnh cáo đuổi ra sân
Quả bóng da lăn lộn biết bao lần
Hết hai hiệp và…đội nhà đã thắng
Ta tuy bé, nhưng đồng lòng cố gắng
Biết nêu cao gương đoàn kết đấu tranh
Khi giao banh, khi phá lưới, hãm thành
Nên đoạt giải dù địch to gấp b
ội…

Bài học thuộc lòng này, về sau tôi được biết là lấy cảm hứng từ chiếc cúp vô địch đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của Việt Nam tại Đông Á Vận Hội trên sân Merdeka của Malaysia vào cuối thập niên 50, với những tên tuổi vang bóng một thời như Tam Lang, Ngôn, Cù Sinh, Vinh “đầu sói”, Cù Hè, Rạng “tay nhựa”… Tuy không biết chơi bóng đá, nhưng thằng bé là tôi lúc đó rất thích bài học thuộc lòng này nên tự nhiên thuộc lòng luôn. Càng đọc, càng ngẫm nghĩ đó đâu phải là bài thơ chỉ nói về bóng đá mà thôi. Nó là bài học đoàn kết của một Dân Tộc tuy nhỏ bé, nhưng gan lỳ, bất khuất khiến cho cả thế giới phải ngước nhìn bằng đôi mắt khâm phục!

Bạn thấy lạ lùng chưa, chỉ một bài thơ ngắn nói về một thứ trò chơi thôi, mà lại chứa đựng biết bao nhiêu điều vĩ đại, còn những lời ''đao to, búa lớn ồn ào'' chắc chi đã làm được việc.

Nói về môn Lịch Sử, hồi đó gọi là Quốc Sử, đã có sẵn bài học thuộc lòng như sau:

Giờ Quốc Sử

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng khắp trong giờ Quốc Sử.
Thầy tôi bảo: “Các con nên nhớ rõ,
Nước chúng ta là một nước vinh quang.
Bao anh hùng thưở trước của Giang San,
Đã đổ máu vì lợi quyền Dân tộc.
Các con nên đêm ngày chăm chỉ học,
Để sau này mong nối chí Tiền Nhân.
Ta tin rằng, sau một cuộc xoay vần,
Dân Tộc Việt vẫn là dân anh liệt.
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam.
Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm,
Đầy chiến thắng, vinh quang và hạnh phúc!”

Hình ảnh ông Thầy dạy Sử trong bài học thuộc lòng hiện lên, nghiêm nghị nhưng lại thân thương quá chừng, và bài Sử của Thầy, tuy không nói về một trận đánh, một chiến công hay một sự kiện quá khứ hào hùng nào, nhưng lại có sức lay động mãnh liệt với đám học trò chúng tôi ngày ấy, đến nỗi mấy chục năm sau, chúng tôi vẫn nhớ như in. Lại có bài song thất lục bát về ông Thầy dạy Địa lý, không nhớ tác giả là ai, nhưng chắc chắn tựa đề là “Tập vẽ bản đồ”, phía lề trái còn in cả hình minh họa Quần Đảo Trường Sa và Hoàng Sa:

Tập vẽ bản đồ

Hôm qua tập vẽ bản đồ,
Thầy em lên bảng kẻ ô rõ ràng.
Ranh giới vẽ phấn vàng dễ kiếm,
Từ Nam Quan cho đến Cà Mau.
Từng nơi, Thầy thuộc làu làu,
Đây sen Đồng Tháp,
đây cầu Hiền Lương, Biển Đông,
trùng dương xanh thẳm,
Núi cheo leo Thầy chấm màu nâu.
Tay đưa mềm mại đến đâu,
Sông xanh uốn khúc, rừng sâu chập chùng…
Rồi với giọng trầm hùng, Thầy giảng:
“Giống Rồng Tiên chói rạng núi rừng,
Trải bao thăng giáng, phế hưng,
Đem giòng máu thắm, bón từng gốc cây.
Làn không khí giờ đây ta thở,
Đường ta đi, nhà ở nơi này,
Tổ tiên từng chịu đắng cay,
Mới lưu truyền lại đêm ngày cho ta.
Là con cháu muôn nhà gìn giữ,
Đùm bọc nhau, sinh tử cùng nhau.
Tóc Thầy hai thứ từ lâu,
Mà tài chưa đủ làm giàu núi sông!
Nay chỉ biết ra công dạy dỗ,
Đàn trẻ thơ mong ở ngày mai.
Bao nhiêu hy vọng lâu dài,
Dồn vào tất cả trí tài các con…”

Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, tóc trên đầu tôi cũng bắt đầu hai thứ như ông thầy già dạy Địa trong bài học thuộc lòng ngày ấy, nhưng có một điều mà tôi nghĩ mãi vẫn chưa ra. Ông thầy đang dạy Địa, hay ông thầy đang âm thầm truyền thụ lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc cho đàn trẻ thơ qua mấy nét vẽ bản đồ? Lời của Thầy thật là nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng cũng thật là tha thiết, chạm vào được chỗ thiêng liêng nhất trong tâm hồn những đứa trẻ ngây thơ vào những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, nơi chúng được dạy rằng ngoài ngôi nhà nhỏ bé của mình với ông bà, cha mẹ, anh em ruột thịt, chúng còn có một ngôi nhà nữa, rộng lớn hơn nhiều, nguy nga tráng lệ, thiêng liêng, vĩ đại hơn nhiều, một ngôi nhà mà chúng phải thương yêu và có bổn phận phải vun đắp.

Phạm Văn Phước

Chuyện lạ - Dịch vụ may tã cho gà

Mỗi tháng người phụ nữ này bán từ 500 - 1000 chiếc tã gà, phục vụ khách hàng tại rất nhiều thành phố ở Mỹ.



Những chiếc tã gà thiết kế thường có giá khoảng 18 USD/chiếc
 Ảnh: Facebook

Julie Baker, một người phụ nữ đến từ bang New Hampshire (Mỹ) bắt đầu sự nghiệp kinh doanh tã dành cho  một cách khá tình cờ.
Khoảng 10 năm trước, Julie và con gái chị cùng nhau nuôi một đàn gà tại trang trại nhỏ.
Trong khoảng thời gian này, chị vô tình xem được đoạn clip, trong đó ghi lại hình ảnh một chú gà đang mặc tã. “Lúc đó, tôi nghĩ rằng tôi cũng nên làm điều này cho những con gà của mình, để chúng không còn phóng uế bừa bãi nữa“, Julie nói.

Xu hướng nuôi gà làm thú cưng ở các khu vực như New York, Denver và Los Angeles giúp Jolie có được khoản thu nhập đáng kể. Ảnh: Facebook

Kể từ khi được mặc tã, những chú gà của chị Jolie cũng thoải mái hơn trong việc dạo chơi trong nhà. Không lâu sau đó, một số người yêu thích nuôi gà khác tìm đến chị và nhờ chị may những chiếc tã gà tương tự.
Năm 2010, chị cùng con gái mở một cửa hàng online có tên “Nâng niu gà cưng”, chuyên thiết kế những sản phẩm “thời trang” cho gà.
Nó nhanh chóng nhận được sự quan tâm của mọi người. Mỗi tháng chị bán từ 500 - 1000 chiếc tã gà, phục vụ khách hàng tại rất nhiều tiểu bang. Ước tính tổng thu nhập của chị lên tới 50.000 USD  mỗi năm. 

Ngọc Bích - soha.vn
________________________________

Thursday, September 20, 2018

6 loại rau dại thường thấy trong sân vườn

Ngày nay, thế giới ẩm thực đang bắt đầu khuynh hướng tìm về những món ăn truyền thống, và nhiều loại rau dại đang xuất hiện trên thực đơn của các nhà hàng, tập trung vào các sản phẩm hữu cơ theo mùa hoặc địa phương. Dưới đây là những loại rau dại mình thường thấy mọc hoang trong vườn. Tưởng là cỏ dại nhưng thật ra đấy là những loại rau bổ dưỡng, có thể gọi là đặc sản của trời.

Chickweeds
Chickweed cũng bắt đầu xuất hiện ở những nơi như chợ nông sản và dưới hình thức bổ sung thảo dược và trà tại Whole Foods.

Chickweek mọc trong vườn này là nguồn cung cấp Vitamin-A, C và D, cũng như sắt, canxi, kali, phốt pho và kẽm! Chickweed có một hương vị tinh tế, giống như rau bina, rất tốt khi mới hái và ăn kèm với bánh mì hay salad. 

Wednesday, September 19, 2018

“Chỗ này đời sống của đồng bào mình thê thảm nhất!”

Nguyễn Công Bằng (VDF)
…. Viết theo tường trình công tác của Nhà văn Tưởng Năng Tiến




“Chỗ này đời sống của đồng bào mình thê thảm nhất!” là lời kết của anh Tưởng Năng Tiến trong thư tường trình chuyến thăm viếng, trợ giúp giáo dục cho mấy trăm trẻ Việt kém may mắn ở tỉnh Pursat, Cambodia – nơi mà ViDan Foundation (VDF) tập trung phần lớn sự trợ giúp từ thiện và giáo dục từ mấy năm qua.

Hành trình chia sẻ tình thương bắt đầu từ làng nổi Kor K’ek thuộc tỉnh Pursat, cách bến đò Kampong Luong khoảng gần 2 giờ đường thuỷ. Đây là chốn tạm dung không thời hạn của hàng ngàn đồng bào có cùng chung hoàn cảnh: Sinh ra trên đất Cambodia nhưng không được cấp giấy khai sinh, không được phép đi học trường công lập, và các thế hệ con cháu cũng phải chịu cùng chung số phận như Ông Cha… 
Tại bốn làng này, bên cạnh việc thăm viếng công trình xây dựng trường Việt ngữ An Hoà ở làng Bến Ván, thăm lại ngôi trường nổi Kor K’Ek đã được VDF sửa chữa cùng số bàn ghế học sinh được cung cấp, và thẩm xét nhu cầu xây dựng trường Việt ngữ ở làng Anlung Raing, anh Tưởng Năng Tiến (TNT) đã thay mặt Hiệp hội thăm viếng và tặng tập vở, quà bánh cho học sinh, trẻ thơ hiện diện ở mỗi nơi.
  • Thăm viếng đồng bào và trường Việt ngữ, Miên ngữ ở hai làng Kok K’Ek và Anlung Raing, uỷ lạo quý Thầy Giáo, tặng tập vở, quà bánh cho 161 trẻ.
  • Thăm viếng đồng bào và trường Việt ngữ An Hoà ở làng Bến Ván, Kampong Chhnang, uỷ lạo quý Sư Thầy, tặng tập vở, quà bánh cho 115 trẻ.
  • Thăm viếng đồng bào và trường Việt ngữ Ấp Sáu ở Neak Loeung, uỷ lạo quý Thầy Cô, tặng tập vở, quà bánh cho 150 trẻ.


Thầy Tâm và anh TNT thăm hỏi, phát quà cho 120 cháu ở làng nổi Kor K’Ek.


Anh TNT và Sư Minh Trung phát quà cho 115 học sinh làng Bến Ván


Phát quà cho 150 trẻ ở khu vực trường Ấp 6 Neak Loeung (trường do VDF xây dựng năm 2014)

Bên cạnh việc thăm viếng, tặng quà, anh TNT đồng thời đã thay mặt Hiệp Hội đến thăm hai trường nổi ở Kor K’Ek: Trường Việt ngữ dạy cho hơn 100 trẻ, và trường dạy tiếng Khmer cho hơn 40 trẻ. Đây là địa điểm VDF đã giúp sửa chữa một trường nổi, trang bị 25 bộ bàn ghế mới cho học sinh; và tổ chức phát gạo từ thiện nhiều lần cho hàng ngàn gia đình nghèo. Tương tự như các trường ở Neak Loeung, VDF bảo trợ thù lao hàng tháng cho các Giáo viên, để gia đình các cháu không phải lo lắng tìm tiền trả học phí.
Với lớp tiếng Khmer vừa được thành lập năm 2018, Thầy Kiên và người con trai đã hết lòng dạy cho hơn 40 cháu học tiếng Khmer -- ngôn ngữ người bản xứ. Đây là chủ trương trợ giúp của VDF, muốn giúp cho các cháu có được trình độ căn bản tiếng địa phương để có thể giao dịch mưu sinh trong cuộc sống sau này, tránh bị khinh thường là “đồ dốt chữ”, bị lợi dụng công sức…

Thầy Kiên và một số học sinh lớp Khmer (VDF đã giúp sửa chữa trường này và trang bị bàn ghế)


Anh TNT và Thầy giáo Kiên (Lớp tiếng Khmer)

Theo lời anh TNT, “Thầy Kiên rất khiêm nhường, không xin Hội gì ngoài cái bảng đen mới để thay thế cho cái bảng cũ đã bị hư hoại.” Dù vậy, VDF sẽ đáp ứng lời đề nghị của anh TNT về những nhu cầu chính đáng khác ở trường này.
|||
Tại làng Anlung Raing, anh TNT đã thay mặt Hiệp Hội viếng thăm lớp học của Thầy Trần Đông Xuân, nơi có 41 cháu học sinh đang theo học lớp Việt ngữ.

Thầy Trần Đông Xuân dạy Việt ngữ từ năm 2008, hiện nay lớp có hơn 40 cháu
.


Anh TNT cùng Thầy giáo Xuân và một số cháu học sinh.

Đến nay, lớp học là ngôi nhà bè của Thầy Xuân. Là người biết chữ Việt và cũng là người thương trẻ, Thầy đã nhận lời mở lớp theo yêu cầu khẩn khoản của 49 gia đình từ năm 2008. Hiện nay lớp Việt ngữ có 41 cháu học sinh ở nhiều lớp tuổi khác nhau; và mỗi ngày Thầy, trò đều phải khòm lưng viết vì chưa có bàn ghế. Theo dự liệu, VDF sẽ cố gắng sắp xếp ngân khoản $5,500 USD để xây dựng một trường dạng nhà bè và trang bị 12 bộ bàn ghế cho học sinh (để Thầy và trò không bị còng lưng, như sự lo lắng của anh TNT).
Đồng thời Hiệp Hội sẽ cố gắng hỗ trợ hằng tháng cho nỗ lực rất đáng trân trọng của Thầy Xuân, đáp ứng mong đợi lớn lao của số đồng bào đang lưu lạc ở đây: Con cháu được đi học biết chữ, thoát dốt.
Kết thúc chuyến đi tỉnh Pursat, anh Tưởng Năng Tiến đã kết thúc bản tường trình với nhận định rằng: “Nhìn chung, công việc rất tốt. Anh Ngô Ly và mọi thầy giáo đều hết lòng. Các em đều ngoan cả. Ngoài chuyện hiếu học, tụi nhỏ còn ham đến trường vì có bạn để chơi. Có điều khó là tất cả đều kỳ vọng quá nhiều vào ViDan Foundation… vì ngoài chúng ta thì gần như họ không còn ai khác để mà trông mong nữa!”
|||
Sau khi hoàn thành chuyến thăm viếng ở tỉnh Pursat, anh Tưởng Năng Tiến đã lên đường đến làng Bến Ván, tỉnh Kampong Chhnang.
Tại làng Bến Ván, ngôi trường & Chùa An Hoà đã được xây dựng gần xong. Đây là một công trình được khởi xướng bởi nữ Cư Sĩ Diệu Huệ -- một người luôn nhiệt thành không mệt mỏi với những việc giúp Chùa, giúp người nghèo, và đặc biệt là trẻ thơ.
Đầu tiên là dự án xây dựng một ngôi trường nhỏ tương đối kiên cố để thay thế cho “ngôi trường” vốn là một căn nhà sàn ọp ẹp, khởi sự với một ngân khoản khiêm nhường $7,500 USD, và sau đó là sự hợp sức của ViDan Foundation (từ sự hỗ trợ $10,000 của chị Kim Bintliff). Khi bắt đầu xây dựng, một số Phật tử khác phát tâm đóng góp để xây thêm một tầng nữa làm nơi thờ phượng.

Trường Việt ngữ An Hoà (cũ) ở làng Bến Ván (ngày được hội từ thiện đến phát quần áo, nón…)


Trường Việt ngữ & Chùa An Hoà (mới) đang được xây dựng giai đoạn cuối
Công trình nay đã gần hoàn thành song lớp học đã được bắt đầu từ hơn tháng trước. Điều vui khác là theo anh TNT: “Sư Minh Trung rất giỏi trong chuyện giáo dục nên đám trẻ ngoan ngoài sức tưởng tượng.”
|||
Với sự chia sẻ, hỗ trợ nhiệt tình, đều đặn của nhiều đồng hương đầy lòng nhân ái, Hiệp Hội đã đem đến niềm vui cho hàng ngàn đồng bào đang từng ngày vật lộn vất vả với cuộc sống khốn khổ, đặc biệt là hơn 500 đứa trẻ gần chắc là không có tương lai, tương tự như cuộc đời thấp kém, vất vả triền miên của ông bà, cha mẹ chúng.
Chuyến đi kết thúc trong sự an lành, và nhà văn Tưởng Năng Tiến đã lên đường tiếp tục hành trình phiêu bạt, chia sẻ tình thương và hy vọng với những đồng bào đang tha phương lạc xứ, trong đó có nhiều bạn trẻ vừa rời đất nước vì không thể ở lại quê nhà.
Cảm ơn anh TNT đã luôn hết lòng chia sẻ trách nhiệm với anh chị em ViDan Foundation, từ mặt thời gian, công sức đến tài chánh.
Xin cảm ơn những “email tường trình” và xin ghi nhận những nhận xét, đề nghị của anh, kế cả kết luận cuối cùng:
“Kết luận của riêng tôi: Trong hoàn cảnh và khả năng hiện tại của Vidan, chỉ cần dồn hết nỗ lực cho làng nổi ở Pursat – với hai cái trường đang có, và một cái sẽ có (chỗ thầy Xuân) là được rồi. Chỗ này đời sống của đồng bào mình thê thảm nhất, cần giúp nhất!
|||
Đồng hương muốn xem thêm thông tin về ViDan Foundation xin thăm mạng: www.hoamai.us hay www.vidan.us
Thư từ liên lạc hay chi phiếu ủng hộ cho Hội xin gửi đến:
ViDan Foundation: PO Box 152486, Austin, TX 78715-2486
Đồng Hương muốn đóng góp qua hệ thống chuyển ngân PayPal có thể ủng hộ Hội qua địa chỉ email:  paypal@vidan.us
Mọi thắc mắc hay hay cần trao đổi, xin vui lòng liên lạc cô Anh Trinh ở số điện thoại: 713-391-9843 hoặc địa chỉ email: lienlac@vidan.us

Nguyễn Công Bằng (VDF)
Viết theo tường trình công tác của Nhà văn TNT


________________________________________

Tuesday, September 18, 2018

Luận về Đông Trùng Hạ Thảo

Bác sĩ: Nguyễn Ý Đức

.
Nhân giống từ nhộng tằm

Hỏi :

Kính gửi bác sĩ Đức

Chúng tôi thấy quảng cáo ca tụng “thuốc” Đông Trùng Hạ Thảo là một thần dược, chữa được nhiều bệnh nan y. Xin bác sĩ vui lòng giúp chúng tôi tìm hiểu coi xem có đúng như vậy hay không, trước khi mua về dùng. Chúng tôi tuổi cũng gần 70, chỉ bị bệnh tiểu đường mà thôi. Liệu có nên uống thuốc này thay vì chích insulin mỗi tuần.

Monday, September 17, 2018

Tháp chuông tưởng niệm Chuyến bay 93

Khúc nhạc vĩnh cửu của các anh hùng 11/09/2001


VOA - Đài tưởng niệm các anh hùng trên Chuyến bay 93 được khánh thành hôm 9/9 nhân đánh dấu 17 năm biến cố 11/9 năm 2001.

Sunday, September 16, 2018

Bún chả - Đặc sản hà Nội



Nguyên liệu

- 750g (khoảng 1.6 lbs) thịt ba rọi
- bún tươi
- 1 củ su hào (hoặc đu đủ xanh)
- 1 củ cà-rốt
- 1 muỗng canh ( Tsp) nước mắm

Saturday, September 15, 2018

Hiện tượng đau chi cụt:

Tồn tại cơ thể người ở không gian khác?





Một số người cho rằng ngoài cơ thể vật lý, chúng ta còn sở hữu một cơ thể năng lượng vô hình. Điều này có thể giúp giải thích cho hội chứng chi ma (phantom limb syndrome)