Ngày 30 tháng Tư năm 1975, Sài Gòn thất thủ. Người ta thường chọn ngày ấy làm dấu chấm hết của một thời. Trong ký ức chung, đó là những khung hình dồn dập. Đó là dòng người chen lấn trước cổng phi trường, trước Tòa Đại sứ Mỹ; những con tàu nặng trĩu người rời bến Bạch Đằng; những cánh trực thăng bay về phía biển, mất hút vào đường chân trời nơi Đệ Thất Hạm Đội đang chờ.
Nhưng cuộc chiến đang chấm dứt, không khép lại ở Sài Gòn. Nó đã vỡ ra từ trước đó, như những đường nứt lan dần trên một tấm kính. Từ Ban Mê Thuột, Pleiku trên cao nguyên, rồi Huế, rồi Đà Nẵng… mỗi nơi là một cơn chấn động, một lần đổ vỡ. Và đến lượt Đà Nẵng, thành phố của tôi, bước vào những ngày cuối cùng của chính mình.
Tôi khi ấy mười sáu tuổi. Một tuổi đời chưa đủ để hiểu chiến tranh, nhưng lại vừa đủ để ghi nhớ nó suốt đời. Tôi lớn lên giữa phố xá, chỉ biết chiến tranh qua trang báo, qua tiếng bom đạn vọng về từ xa như những cơn giông không bao giờ tới gần. Cho đến cuối tháng Ba năm ấy, khi cơn giông bất ngờ ập xuống, không còn ở phía chân trời nữa, mà ngay trên đầu. Người lớn hoang mang cuốn cuồn lo sợ; không biết số phận mình, gia đình mình sẽ đi về đâu? Riêng những người trẻ tuổi 15, 17 như chúng tôi, thì không thể biết hết ý nghĩa của cơn bão đang trùm xuống, nhưng vẫn cảm nhận được rõ rệt một điều: ngày mai sẽ không còn giống hôm qua.
Đà Nẵng cuối tháng Ba. Bây giờ không phải chỉ là những lời rỉ tai đồn đoán bị bỏ lại. Những chiếc xe GMC chở lính sư đoàn dù đã rời thành phố, nghe nói họ được chuyển về bảo vệ phần đất còn lại của miền Nam. Thành phố tràn ngập những người tị nạn từ Quảng Trị, Huế, Tam Kỳ, Hội An… Trường học đóng cửa làm chỗ trú cho dân tị nạn. Từng tốp lính Thủy quân lục chiến, lính các sư đoàn súng ống trên tay, áo quần tả tơi, mắt trũng sâu, lang thang như những bóng ma sau cuộc rút lui đẫm máu từ Thuận An. Đêm xuống, pháo kích từ phía quân đội miền Bắc trút xuống phi trường, bến cảng, cả khu dân cư, xé toang màn đêm và niềm hy vọng cuối cùng.
Chiều 28, tôi đứng trên sân thượng nhìn xuống. Thành phố đặc nghẹt người, hối hả ngược xuôi. Bất chợt, tôi chứng kiến một cảnh tượng mà suốt đời không quên: một người đàn ông dừng xe bên đường ray, cúi xuống tìm vật gì đó. Một người khác tiến lại, rút súng bắn. Người kia gục xuống. Kẻ nổ súng bỏ đi. Lần đầu tiên trong đời, tôi tận mắt thấy “người giết người”. Tôi chết lặng.
Ở phía chợ Cồn thỉnh thoảng vang lên từng loạt đạn. Không biết từ đám bạo loạn lợi dụng thời cơ giết người cướp của hay từ lực lượng bảo vệ còn sót lại. Một chiếc xe thiết giáp chạy về hướng chợ, trên xe có vị sĩ quan mang cấp bậc trung tá tay lăm lăm khẩu súng lục. Loa phóng thanh từ xe thiết giáp cảnh cáo sẽ bắn chết những kẻ xấu. Nghe nói người sĩ quan cấp tá can đảm đó là chỉ huy trưởng của Quân trấn Đà Nẵng (?). Có lẽ đó là vị sĩ quan cao cấp quân đội cuối cùng còn ở lại với người dân trong “giờ thứ 25” của thành phố.
Mấy hôm nay vài gia đình trong xóm tôi đột nhiên biến mất. Vẫn còn những chuyến bay cuối cùng bay vào Sài Gòn. Dưới bến Bạch Đằng, bên cảng Tiên Sa, bãi biển Mỹ Khê đoàn tàu lũ lượt ra khơi. Tôi nhớ có buổi chiều, người cậu họ ghé lại tiệm buôn nhà tôi. Cậu thầm thì khuyên mẹ dẫn chị em tôi theo gia đình cậu xuống bến tàu di tản. Ba mẹ lưỡng lự vì em gái út tôi mới sinh. Vả lại, hàng hóa buôn bán vẫn còn chất đầy cửa tiệm. Ba mẹ tôi tiếc của. Một phần ba tôi tin rằng, “họ” có vào đi nữa thì mình cũng chẳng sao vì gia đình xưa nay chỉ biết buôn bán, không dính dáng đến chính quyền miền Nam. Và ba tôi có một người em tập kết ra bắc năm 1954. Dù sao cũng có người thân để dựa dẫm.
Cậu ôm mẹ nói lời từ giã. Khóe mắt mẹ rưng rưng. Giã biệt trong hoàn cảnh như bây giờ thì biết bao giờ gặp lại. Mà thật vậy, đến 20 năm sau ba mẹ tôi mới gặp lại cậu trên đất Mỹ.
Những ngày cuối cùng, Đà Nẵng cần một phép màu để đứng vững. Nhưng chẳng có phép màu nào đến như lời cầu nguyện của những người dân lành tội nghiệp. Chiều 29 tháng Ba, những chiếc xe tăng bộ đội miền Bắc tiến vào, thành phố ngậm ngùi đổi chủ.
Buổi chiều Đà Nẵng mưa rả rích, tôi đạp xe xuống khu Ngã Năm trung tâm thành phố. Nghe nói lính bên kia đang hiện diện ở đó. Trước khách sạn Đông Phương, những người bộ đội trong quân phục xanh màu đọt chuối. Họ trông lạ hoắc, họ lạc lõng giữa rừng người tò mò đến xem. Vài cô có vẻ là lực lượng du kích đi chân đất, súng lăm le trên tay.
Chiếc mũ tai bèo, đôi dép “râu” lạ lẫm. Tôi mang cảm giác bất an. Bầu trời hôm đó xám nghịt, mưa lâm râm! Tất cả như là điềm báo trước cho một ngày mai tan tác, như hai câu thơ ai đó đã viết nên sau này:
“Đôi dép râu dẫm nát hồn tuổi trẻ
Chiếc mũ tai bèo che khuất nẻo tương lai”
Đoàn xe Molotova vẫn còn lá cây ngụy trang chạy ngoài phố. Khói đen mù mịt, tiếng máy nổ gầm gừ. Những người lính miền Bắc với vẻ mặt ngờ nghệch, mắt dáo dác nhìn hai bên đường. Trên vài chiếc xe jeep quân đội miền Nam bỏ lại, đám thanh niên tay mang băng đỏ thỉnh thoảng nhả vài tràng đạn hăm dọa vu vơ. Họ hò hét điên cuồng trong cơn lên đồng của những kẻ say men mùi chiến thắng. Chiếc băng màu đỏ trên cánh tay họ làm tôi sợ hãi, nó như vệt máu ứa rỉ trên vết thương dân tộc.
Tôi rời khỏi đám đông trước khách sạn Đông Phương. Rẽ ngang đường Bạch Đằng. Tôi một mình ngồi nhìn mưa đổ xuống sông Hàn. Lòng sông sủi tăm màu trắng đục. Những hạt mưa vừa chạm mặt nước bắn tung tóe, nhưng sao tôi không nghe thấy gì cả. Cảnh vật lặng yên, như diễn ra trong một đoạn phim câm. Sự yên lặng mang theo cảm giác sợ hãi. Tôi muốn làm một điều gì đó để trấn an mình. Nhưng biết làm gì? Thời đó tôi chưa hút thuốc! Chiều sẩm xuống, đạp xe về nhà. Tôi lúc đó mới tuổi 16 mà đã buồn vô vọng!
Vài ngày sau xóm nhà tôi, những gia đình không xuống tàu di tản vào nam kịp lục đục trở về. Họ còn may mắn, vì chỉ vài hôm nữa những căn nhà bỏ trống lần lượt bị niêm phong. Không khí giữa xóm giềng dường như không còn thân mật như trước. Một không khí e dè đề phòng sau những đợt mít tinh, học tập chính trị của chính quyền địa phương. Những kẻ nằm vùng trước 1975, và cả lực lượng “30 tháng 4” mới nổi lên đang mở căng mắt dòm ngó làm họ sợ hãi.
30 tháng Tư, Sài Gòn rồi cũng mất. Tháng Năm tôi trở lại trường học. Không khí trong trường thay đổi. Ngoài những thầy cô giáo cũ được cho “lưu dụng”, ban điều hành trường bây giờ toàn là cán bộ được điều từ thành đoàn xuống. Họ có uy quyền tuyệt đối, kể cả quyền cho nghỉ việc một thầy cô giáo nào đó bị nghi ngờ không tin vào cách mạng. Dăm cô cậu học sinh bỗng dưng thay đổi cách ăn mặc, cách nói chuyện, cứ như đã giác ngộ cách mạng từ lâu lắm. Mới hôm qua đây thôi họ là những người bạn, hôm nay họ trở nên lạnh lùng chăm chỉ lên gân phê bình từng cá nhân bị gán cho là thành phần có tư tưởng không tiến bộ. Tôi mệt mỏi vì những buổi họp, những lần học chính trị kéo dài đến vài giờ. Những thuật ngữ mới như “phân biệt địch và ta”, “kiên định lập trường giai cấp”, “ba dòng thác cách mạng”… làm tôi sợ hãi.
Một hai năm đầu sau tháng 4, 1975 đời sống người dân còn tương đối dễ thở. Nhưng sau đó là chủ trương đánh tư sản mại bản, kinh tế mới, rồi phát động chiến tranh biên giới thì miền Nam đã biết thế nào là hệ lụy của việc tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Không chịu nổi đè nén, người trong xóm rủ nhau vượt biên, có gia đình thoát, có gia đình mất con giữa biển. Cuối tháng Ba, năm năm sau ngày định mệnh, tôi xuống ghe ra đi, xem như vĩnh biệt quê nhà.
Thế hệ tôi, những người ở thời điểm tháng tư năm 1975 chỉ độ tuổi 15, 17 có lẽ là những người kém may mắn. Chúng tôi ở giữa cái biết và không biết. Chúng tôi đứng giữa hai bờ của lịch sử, giữa tự do và kiểm soát, giữa ký ức và hiện thực, giữa điều đã mất và điều chưa kịp hình thành.
Chế độ Cộng sản có một từ để diễn tả cái khoảng trung gian chuyển giao giữa hai giai đoạn trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mỗi một 5 năm (kế hoạch ngũ niên). Đó là giai đoạn họ gọi là “giai đoạn bản lề”. Chử “bản lề” thoạt nghe dễ mang cho chúng ta cái cảm giác của tình trạng mắc kẹt, của sự chèn ép đến vỡ nát te tua. Như ngón tay bị kẹp trong bản lề cánh cửa vừa khép lại, đau nhức đến tím tái. Có thể nói, thế hệ chúng tôi nằm trong một giai đoạn “bản lề” khốn khổ mà hoàn cảnh đã gây nên. Một thế hệ kém may mắn.
Nửa thế kỷ đã trôi qua.
Thời gian không ào ạt. Nó chảy lặng lẽ như một con sông dài. Mang theo con người đi qua những bến bờ khác nhau. Để rồi một ngày ngoảnh lại thấy mình đã ở rất xa nơi đã bắt đầu. Từ cậu bé mười sáu tuổi năm ấy, tôi giờ đã gần bảy mươi. Những giận dữ, những mất mát, những điều tưởng như không thể nguôi ngoai rồi cũng lắng xuống. Không phải vì quên, mà vì thời gian đã dạy con người cách đặt chúng vào một khoảng lặng sâu hơn.
Quê hương cũng đổi thay. Thế giới cũng đổi thay. Giờ đây, chỉ cần một chiếc điện thoại, tôi có thể nhìn thấy bạn bè mình ở bên kia bán cầu. Họ uống cà phê buổi sáng, họ hát karaoke với nhau buổi chiều. Những điều giản dị ấy, ngày xưa là cả một khoảng cách không thể vượt qua.
Công nghệ đã nối lại những gì địa lý từng chia cắt. Lòng người bỗng hóa gần nhau hơn. Nhưng có một điều, tôi vẫn tự hỏi. Rồi mai này, khi thế hệ chúng tôi không còn nữa, ai sẽ nhớ. Nỗi nhớ không phải bằng dữ liệu chứa trên đám mây công nghệ, mà bằng cảm xúc, về những ngày ấy?
Những ngày mà một thành phố hấp hối.
Một tuổi trẻ hoang mang.
Một đời người rẽ sang hướng khác chỉ trong vài ngày ngắn ngủi.
Liệu ký ức có còn là ký ức, nếu không còn ai mang nó trong tim? Hay tất cả rồi sẽ trở thành những dòng chữ ngay ngắn, những con số chính xác, nhưng không còn hơi ấm?
Trong tương lai, trí tuệ nhân tạo sẽ tiến xa đến đâu, và sẽ chi phối con người đến mức nào? Tôi không biết. Chỉ biết rằng, ký ức không thể nằm trong máy móc. Nó nằm trong con người. Trong cách một người kể lại, và một người khác lặng im lắng nghe. Trong một ánh mắt chợt buồn khi nhắc đến một cái tên cũ. Có những thứ không cần lớn lao để tồn tại. Chúng chỉ cần được gìn giữ bằng trái tim.
27/3/2026. Viết lại một lần rồi thôi,
Trương Hữu Hiền
https://www.facebook.com/share/p/1AbogDkHvz/
https://www.facebook.com/share/p/1AbogDkHvz/
_____________________

No comments:
Post a Comment