Monday, September 21, 2026

Trương Hữu Hiền - "Mưa qua miền ký ức"

Trương Hữu Hiền
https://www.facebook.com/share/p/1LaQPHBo9F/


Gom lại được 31 bài viết mà mình ưng ý, rồi viết xong vài dòng tựa cho cuốn "Mưa qua miền ký ức", tôi chợt nghĩ: đã là một tập tản văn thì cũng nên có đôi lời giới thiệu của một người chuyên viết lời bình thật cừ.

Trong trí tôi bật lên ngay hình ảnh một người bạn bên xứ Phù Tang, người đã từng cùng tôi trên một chuyến vượt biển hơn 40 năm về trước. Tôi nghĩ ngay đến anh An Hải, một phần vì vốn thán phục lối bình thơ của anh, một phần vì trước đây tôi từng đọc những lời anh Vũ Đăng Khuê viết về anh.
Anh Khuê đã viết về An Hải như thế này:
“Còn một thằng thì nhỏ tuổi… râu ria xồm xoàm, có biệt tài bình về thơ cổ hay không thể tả. Cũng khoảng mấy chục năm trước, khi Phạm Duy sang Nhật, hắn có viết một bài ‘bốc’ PD. Năm sau, khi PD sang Nhật, liên lạc với tôi có nhắn: ‘Cậu nói cái cậu gì viết cho tôi một bài nhé’. Tôi hỏi ông: ‘Hay thế sao Bác’. Ông trả lời: ‘Cậu ấy và tôi gặp nhau tại… một điểm chung là cậu hiểu ý tôi nói trong bài hát.’”
Xin trích những dòng giới thiệu của anh An Hải dành cho "Mưa qua miền ký ức".
......................
LỜI GIỚI THIỆU
Trong văn xuôi của người Việt cầm bút sau 1975 có một mảng khó xếp loại: không hẳn hồi ký, không hẳn truyện ngắn, càng không phải biên khảo. Đó là những trang viết của người trong cuộc, viết muộn, viết khi đã đủ độ lùi để nhìn lại mà không còn nóng giận. Mưa qua miền ký ức của Trương Hữu Hiền thuộc về mảng ấy. Nhưng điều khiến tôi muốn nói về cuốn sách này không nằm ở chỗ nó kể lại những gì, mà ở chỗ: đọc xuyên suốt, người ta hiểu rằng tác giả đã không thể nào không viết nó ra.
Người đọc thường mặc định rằng động cơ của loại sách này chỉ là nỗi nhớ quê dằn vặt tâm trí. Với anh Hiền, người viết quen gọi như thế kể từ khi quen nhau lúc chung ghe vượt biển gần 50 năm trước, nỗi nhớ mới là một nửa. Nửa còn lại, và có lẽ là nửa nặng hơn, là một món nợ. Cuộc đời biến động sau biến cố 1975 đã đẩy tác giả qua nhiều gian truân gập ghềnh kể cả những lần thập tử nhất sinh, và hầu như lần nào cũng có một bàn tay xa lạ chìa ra đúng lúc: những người thủy thủ trên một chiếc tàu đánh cá ngoài khơi, một cô y tá ở bệnh viện xứ người trong cơn bệnh Covid hiểm nghèo, một đôi vợ chồng trí thức Mỹ, một người hàng xóm bên kia đường. Thứ ân tình tri ngộ ấy có đặc điểm là không thể hoàn trả: người thi ân phần lớn vô danh, không địa chỉ, có người đã khuất, và món nợ thì lớn hơn mọi hình thức đền đáp vật chất. Nó chỉ còn được trả bằng một cách duy nhất: kể lại. Viết, ở đây, là một nghi thức tạ ơn.
Chính áp lực nội tại đó tạo nên nhịp thúc của cả tập sách, và giải thích vì sao một cựu sinh viên Bách Khoa Phú Thọ, người không lấy văn chương làm nghiệp lại viết liền hơn ba mươi tản văn với một giọng bền đến thế. Có những đoạn tác giả rõ ràng không kể để làm văn: anh kể vì không muốn những người mình muốn kể sẽ lại biến mất hẳn khỏi thế gian lần thứ hai.
Chất liệu của những “cơn” viết ấy là Đà Nẵng, và Đà Nẵng ở đây vừa là nguyên liệu vừa là nhiên liệu. Là nguyên liệu, vì hầu như trang nào cũng lấy chất từ đó: sân cỏ mênh mông của ngôi trường Tây với những cụm bông gòn bay đậu trên tóc học trò, gánh chè trước hiên nhà, tà áo dài đen của người cô giáo trẻ chịu tang giữa sân trường, khu Ngã Năm, chợ Cồn, một đêm không trăng ngoài bãi Mỹ Khê. Là nhiên liệu, vì đó mới là thứ đốt lên và nuôi ngọn lửa viết suốt hơn năm mươi năm, qua Sài Gòn, Okinawa, Tokyo rồi Boston. Tác giả đi rất xa, sống rất lâu ở xứ người, nhưng năng lượng để viết vẫn được truyền về từ một thành phố nhỏ bên bờ sông Hàn. Địa lý đã đổi nhiều lần nhưng tọa độ tinh thần thì không.
Cũng vì viết theo trục tâm cảm chứ không theo trục địa danh, nên tuy viết về Đà Nẵng, tập sách rốt cuộc rồi cũng dành cho từng thành phố mà mỗi chúng ta gọi là quê hương. Người lớn lên ở Huế ở Hà Nội sẽ tìm thấy con đường của mình; người ở Sài Gòn, Quy Nhơn, Hải Phòng, Yên Bái, hay một thị trấn không có tên trên bản đồ du lịch, cũng sẽ tìm thấy ngôi trường của mình, quán cà phê của mình, người bạn đã đi xa của mình, đó đây trong tác phẩm này. Quê hương, xét cho cùng, không phải một địa danh mà là một quãng đời. Tác giả viết rất riêng, nhưng khiến nhiều người đọc đồng điệu, bởi lẽ chúng ta có thể thấy lại mình trong truyện. Đó cũng là lúc các nhân vật bước ra khỏi trang sách để bàng bạc đi vào ký ức hoài niệm của từng người đọc. Ở ngữ cảnh này, Mưa Qua Miền Ký Ức đã “vượt biên” khỏi Đà Nẵng để hòa nhập vào mối tình quê hương luôn ấp ủ trong lòng mọi người. Riêng đã là chung.
Về cách hành văn, tác giả chọn lối kết cấu mảnh vỡ thay cho tuyến tính. Không niên biểu, không nhân vật xuyên suốt ngoài chính người kể, không cốt truyện chung. Cách đọc thích hợp, vì vậy, như là cách người ta đứng trước một khung cửa kính ghép màu trong thánh đường cổ. Mỗi truyện là một mảnh kính: có mảnh trong veo như tiếng cười tuổi nhỏ, có mảnh sẫm như một đêm pháo kích, có mảnh ánh đỏ của mất mát, có mảnh xanh của tuổi trẻ...và phải lùi lại một bước, để ánh sáng của thời gian xuyên qua, toàn bộ mới hiện ra như một bức tranh thống nhất, bức tranh mang tên Hoài Niệm.
Điều đáng nói trong bút pháp của Trương Hữu Hiền là mặc dù viết về một thời đại đầy khẩu hiệu và những danh từ đao to búa lớn, nhưng tác giả kiên trì không sa vào các phạm trù không tưởng, thiếu thực tế. Anh không tranh luận về chủ nghĩa, không lập ngôn về vận mệnh dân tộc, không dựng những hệ thống lý giải. Anh bám vào những quan hệ tình cảm cụ thể chung quanh nhân vật: một người mẹ, một người cậu họ, một cô giáo, một người hàng xóm, một người bạn học. Quan điểm viết trong sách này luôn được nhìn qua khoảng cách gần nhất giữa hai con người. Và anh diễn tả có chừng mực, kể chậm, giọng điềm đạm, thỉnh thoảng pha chút hóm hỉnh rất Quảng, hầu như không lên gân. Chính sự tiết chế ấy làm những đoạn bi thương thấm hơn: người đọc không bị dẫn dắt phải xúc động, mà tự mình xúc động.
Nhan đề, do đó, đáng được đọc kỹ. Mưa là hiện tượng có mặt trong hàng triệu trang văn của nhân loại, và gần như bao giờ cũng gợn sóng cô đơn. Lý do có lẽ rất giản dị: mưa buộc con người dừng lại. Người ta trú mưa. Trong khoảnh khắc bất đắc dĩ phải đứng yên ấy, khi mọi dự tính đều hoãn, quá khứ mới tìm được chỗ trống để dồn về. Mưa là cái cớ chính đáng nhất để một người cho phép mình nhớ. Đặt tên sách là Mưa qua miền ký ức, tác giả đã dựng cả tập theo hình ảnh một chuyến xe đời đang chạy thì gặp mưa và ghé vào các bến đỗ, các trạm dừng chân; mỗi tản văn là một trạm như thế. Đọc cuốn sách này, vì vậy, không phải để ở lại trong quá khứ, mà để ghé vào quá khứ nghỉ chân rồi lại lên đường, để chúng ta biết rằng trong hành trang đi về tương lai của một đời người sẽ chẳng bao giờ thiếu được bóng dáng tươi đẹp, đầy ắp sức chữa lành của dĩ vãng nhiệm màu.
Mỗi truyện trong tập thường nói về một cảnh đời. Vì vậy, dù đây không phải tiểu thuyết, khép sách lại người đọc vẫn cầm trong tay thứ mà một cuốn tiểu thuyết xã hội thường nhắm tới: bức tranh Việt Nam ở thời điểm biến động trước và sau năm 1975. Ở đó có anh Tồn, người trí thức tài hoa của xóm cũ bị nghiền nát dưới bánh xe của định kiến và thời cuộc. Có những gia đình một sớm mai thức dậy thì không còn gì sau chiến dịch đánh tư sản. Có chuyến ghe hai mươi lăm người ra khơi giữa đêm. Có người bạn hai mươi ba tuổi ngã xuống bên bờ biển Rạch Giá, để lại cho mẹ vỏn vẹn một đôi dép da màu nâu. Tác giả không phân tích lịch sử; ông chỉ đặt các số phận cạnh nhau, và chính khoảng cách giữa chúng vẽ nên đường nét của cả một thời đại.
Phần lớn các truyện có bối cảnh từ những cuộc đời chia lìa tan vỡ: những gia đình tan vỡ trong mấy ngày cuối tháng Ba, những người bạn học mỗi người trôi về một phương, những chuyến ra khơi không hẹn ngày về, những cái tên từ đó bặt tin. Nhưng cái nhìn của tác giả không dừng lại ở đổ vỡ. Đằng sau những đau buồn ấy, điều anh ghi nhận bền bỉ nhất là con người vẫn luôn nhớ đến nhau. Sau nửa thế kỷ, đám bạn cũ vẫn nhớ tên, nhớ mặt nhau; người ta vẫn dò hỏi tin tức về nhau qua nhiều đại lục; vẫn ngồi lại với nhau trong một quán cà phê ở một thành phố thứ ba nào đó để nhắc chuyện cũ. Ly tán làm tan hàng ngũ, nhưng không tan được ký ức chung. Và những kỷ niệm chung ấy, trong sách này, hoạt động như một mái hiên: con người xúm xít lại dưới đó, và nhờ đó mà một cộng đồng bị lịch sử đánh bật khỏi nơi chốn của mình vẫn giữ được hình dạng.
Đậm nhất trong tập là những rung chấn tinh thần của ngày 30 tháng 4 năm 1975 và cuộc đổi đời sau đó. Tác giả khi ấy mười sáu tuổi, cái tuổi chưa đủ hiểu chiến tranh nhưng vừa đủ để ghi nhớ suốt đời. Cơn chấn động không đến một lần mà lan dần như những đường nứt trên tấm kính: Ban Mê Thuột, Pleiku, Quảng Trị, Huế, rồi đến lượt Đà Nẵng bước vào cơn hấp hối. Điều mất đi lớn nhất, theo cách kể của anh, không phải nhà cửa hay tài sản, mà là niềm tin vào ngày mai đã lung lay thoi thóp. Chính từ chỗ mất mát đó mà người đọc, nhất là những người sinh sau, tự mình nghiệm ra giá trị của đời sống đang sở hữu ở các xứ sở tự do: rằng tự do chưa bao giờ là điều tự nhiên sẵn có, và cái giá của nó nhiều khi được trả bằng cả một đời người, hoặc bằng những mạng người nằm lại giữa biển khơi và rừng sâu. Từ những trải nghiệm ấy, tập sách hình thành một quan niệm đáng chú ý. Trong truyện kể về chiến dịch đánh tư sản, tác giả khi đó hai mươi tuổi, được huy động vào đoàn kiểm kê ngồi đếm mấy miếng vàng và dăm hột kim cương ghi vào giấy, rồi thức trắng đêm không phải vì hình ảnh vàng bạc mà vì ánh mắt của những con người trong căn nhà đó. Nhiều năm sau, anh đúc kết:
“Và tôi nhận ra rằng lịch sử không chỉ là những sự kiện được ghi lại, hay những phán định rạch ròi giữa đúng và sai. Giá trị của nó nằm ở khả năng buộc con người phải nhìn lại quá khứ một cách trung thực; và quan trọng hơn, với một lòng nhân đủ rộng để thấu hiểu, trước khi phán xét.”
Đó là một quan niệm về lịch sử lấy tình người làm căn bản. Nó không đòi xóa bỏ đúng sai, cũng không kêu gọi quên đi; nó chỉ đặt lòng thấu hiểu vào trước phán xét, và đặt con người vào trước kết luận. Sau ngần ấy biến động, một cái nhìn như thế vừa mới mẻ vừa tinh khôi, mới mẻ vì phần lớn những gì được viết về giai đoạn này lâu nay vẫn quen dừng lại ở việc quy trách nhiệm; tinh khôi vì nó không hề mang dấu vết của oán hận, dù người viết có thừa lý do để oán hận. Và nó đáng để suy ngẫm, bởi nếu ký ức về một thời “hận thù lên ngôi” chỉ được truyền lại bằng giọng điệu tiếp tục lên ngôi hận thù, thì tương lai lại càng rướm máu. Trương Hữu Hiền viết không phải để tìm quên, anh muốn chúng ta không quên và phải nhìn rõ để khỏi phải đi vào một ngõ cụt nào nữa chỉ vì bỏ quên số phận con người.
Cũng chính vì thế, tôi tin cuốn sách sẽ còn được tìm đọc lại về sau. Mai này, khi ai đó muốn tìm hiểu giai đoạn biến động 1975, các văn kiện, số liệu và biên niên sẽ cho biết chuyện gì đã xảy ra, ngày nào, ở đâu. Nhưng chúng không cho biết những con người đương thời đã cảm thấy gì. Đời sống nội tâm của một thế hệ là phần dễ mất nhất của lịch sử: nó không được lưu trữ ở đâu cả và nó tắt đi cùng với những người mang nó. Những trang sách như thế này giữ lại đúng phần dễ mất ấy: nỗi hoang mang của một cậu bé mười sáu tuổi đứng trên sân thượng nhìn thành phố tan rã, nỗi tủi hờn của một người bị đẩy ra bên lề, sự day dứt song song của người ra đi lẫn người ở lại. Đó là loại tư liệu mà chỉ văn chương mới ghi được.
Sau cùng, đây là cuốn sách xứng đáng được giới thiệu rộng rãi, và tôi đặc biệt nghĩ đến lứa tuổi học trò. Không phải vì nó dễ đọc, tuy quả thật nó dễ đọc, mà vì nội dung ấm áp nhân văn mang nhiều giá trị giáo dục được viết bởi một ngòi bút độc lập, hoàn toàn không bị chi phối bởi bất cứ ràng buộc phản văn học nào. Xuyên suốt tập sách, những người tử tế đều xuất hiện đúng vào lúc con người tuyệt vọng nhất, và họ giúp mà không hỏi người trước mặt là ai, theo phe nào, nói tiếng gì. Với một người trẻ, đó là bài học công dân sinh động hơn nhiều trang giáo khoa: về lịch sử, về lòng biết ơn, và về việc tử tế với một người xa lạ mà mình sẽ chẳng bao giờ gặp lại.
Xin trân trọng giới thiệu MƯA QUA MIỀN KÝ ỨC của TRƯƠNG HỮU HIỀN đến bạn đọc, như một trạm dừng chân giữa cơn mưa, nơi ai cũng có thể ngồi lại một lát với quá khứ của chính mình, và đứng dậy đi tiếp bằng tấm lòng nhân ái lớn rộng hơn.
Cảm ơn anh Hiền, tác phẩm thật là nên thơ!
Tokyo, tháng 8 năm 2026

AN HẢI
____________________

Mưa Qua Miền Ký Ức đã lên list ở Amazon.com
Search: "Mưa qua miền ký ức", hoặc số ISBN 9798234223043
- Úc hiện có bán trên:
Search: "Mưa qua miền ký ức", hoặc với số ISBN 9798234223043

Mưa Qua Miền Ký Ức

Written by Hu Hin, Trương

Tập tảnn "Mưa qua miền ký ức" của tác giả Tơng Hữu Hiền là những trang viết đầy xúc cm, kết ni những mảnh ghép thi gian sut hơn na thế kỷ. Qua hìnhnh biểu tượng của những cơn mưa, tác gi dn dắt ngưi đc trở về với ký ức tuổi thơ tại Đà Nẵng, những năm tháng học t hn nhn và biến đng lịch sử dữ dội năm 1975. "Mưa qua miền ký ức" tái hiện chân thực nh trình di cư, cuộc sng t nạn đầy gian truân nng cũng ấm áp tình người trên đt M. Những câu chuyện về thầy cô, bạn cũ và những knim đi thường không chỉ li tri ân quá khcòn tôn vinh ng nn ái và khát vọng tự do của một thế hệ. Cuốn sách như một nnh hoa trắng tưng niệm những người đã nằm lại và là món quà tinh thần giá trị dành cho thế hệ mai sau.

_____________________________

No comments:

Post a Comment