Friday, February 20, 2026

Cuộc Đầu Độc Vĩ Đại Tại Việt Nam

Những chuyến xe đêm buồn thảm và tuyệt vọng.

Từ bao nhiêu năm nay rồi, quê tôi có những chuyến xe đêm đi thành phố khởi hành lúc một giờ sáng, đến Sài Gòn lúc năm giờ. Có hai loại hành khách thường phải đi xe khuya như vậy: Một là người đi làm thuê và hai là người đi khám bệnh. Đến Sài Gòn lúc năm giờ sáng, người làm thuê kịp giờ đến xí nghiệp và người đi khám kịp vào bệnh viện “bắt số” để xếp hàng. Hành khách đi khám bệnh thường quen nhà xe, và họ quen biết nhau vì họ đi lên đi xuống Sài Gòn tái khám năm này qua tháng nọ. 

Trên xe, họ trò chuyện thân thiết, hiểu rõ hoàn cảnh gia đình cũng như bệnh tình của nhau và thương nhau đến rớt nước mắt. Cứ dăm ba chuyến xe không gặp thì hiểu là người ấy đã “về nhà” rồi, có nghĩa là về trên chuyến xe chở xác của bệnh viện. Đa số người bệnh trên những chuyến xe khuya ấy đều bệnh ung thư. Quê tôi bệnh ung thư nhiều vô số, đến nỗi có ai đó bị bệnh phải Sài Gòn khám là mọi người nói như mắc dịch “lại ung thư”. Một trong những đại diện thuộc về Việt Nam, nơi mỗi năm có hơn 200.000 ca mắc mới và khoảng 82.000 ca tử vong (NLD). 

Ở cửa ngõ Sài Gòn hướng miền Tây có Bệnh viện Triều An, gần như đó là bệnh viện dành cho người miền Tây và dành cho bệnh nhân ung thư. Lúc ông Trầm Bê còn đương thời, ông đã dành một khoản từ thiện tài trợ cho bệnh nhân ung thư, bệnh nhân nghèo bệnh nặng được miễn giảm viện phí ở Triều An. 

Cơn sông quê đã hết hiền hòa. 

Đa số bệnh nhân ung thư ở quê tôi là nông dân. Trong văn chương nghệ thuật, hình ảnh nông thôn quê tôi luôn đẹp đẽ hiền hòa. Giờ khác rồi, những cơn sóng quê miền Tây vẫn đẹp mà không hiền chút nào. Tất cả ô nhiễm tới nỗi không ai dám tắm sông nữa. Hình ảnh trẻ con bơi đùa trên sông là xưa rồi. Chúng biết sông rất độc, hễ xuống sông tắm là bị ngứa, ghẻ lở, nhiễm độc. 

Thành phố có công ty vệ sinh đô thị thu gom rác, chứ nông thôn làm gì có, bao nhiêu rác người dân đều thải xuống sông, mà không bao giờ và không ai nghĩ đến chuyện xử lý nước thải. Chợ nông thôn hầu hết đều ven sông, tan buổi chợ là tất cả rác rến lùa hết xuống sông. Cách đây mươi năm, hầu hết người dân nông thôn đều đi vệ sinh trên cầu cá, tức là đào cái ao nuôi cá tra, phía trên làm cầu tiêu để lấy phân nuôi cá. Tất nhiên là cái ao có đường cống thông ra sông rạch, có nước ra vô. Sau khi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt ra chỉ thị 100 cấm cầu cá thì đỡ hơn, nhưng đầy đủ đâu, vẫn còn.

Sông ngòi miền Tây ô nhiễm kinh hoàng! (RFA) 

Dù sao thì rác hữu cơ có dơ chút mà không độc. Những dòng sông quê nhiễm độc là bởi phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, những loại thuốc bảo vệ thực vật cực kỳ độc hại bón trên ruộng lúa, xong rồi xả hết ra sông. Miền Tây trồng lúa ba vụ một năm, đất không có thời gian hồi phục nên phải xài phân thuốc thật nhiều thì lúa mới trúng. Cứ nhìn những doanh nghiệp kinh doanh phân bón, thuốc nông nghiệp giàu lên như thế nào thì đủ biết người nông dân sản xuất lúa toàn bằng phân thuốc. 

Khi được sử dụng xong, các chai thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ bỏ lăn lóc bên bờ ruộng hoặc liệng hết xuống sông, hầu như không ai xử lý đúng cách cả. Chúng ta biết là thuốc sâu độc hại ra sao, thuốc diệt cỏ còn hơn vậy. Những người “tutu” bằng thuốc sâu thì còn cứu được, chứ uống thuốc cỏ là bó tay luôn. Nông dân biết hết, nhưng họ tỉnh bơ, họ vẫn trữ thuốc độc trong nhà, trong nhà bếp, pha thuốc vào bình xịt xong vứt chai thuốc lăn lóc sau hè. Thậm chí mấy quán tạp hóa ở quê bán thuốc sâu, phân bón chung với thực phẩm luôn. Mấy anh nông dân than với tôi là mỗi khi đi xịt thuốc về, họ “mắc bệnh” cả tuần chưa hết: Nhức đầu, mệt mỏi, nóng sốt, bải hoải chân tay… Đó chính là tình trạng nhiễm độc thuốc trừ sâu, nhưng họ “quen” rồi, nếu khuyên họ mặc đồ bảo hộ lao động, đeo khẩu trang và kính bảo vệ thì họ không bao giờ nghe, vì “vướng víu khó làm việc”, họ bảo vậy. Những bệnh nhân ung thư tương lai là đây chứ đâu. 

Người nông dân đã hết thật thà. 

Đến nhà nông dân, bạn sẽ thấy họ trồng riêng một mảnh ruộng, một mảnh vườn “đồ nhà”, tức là không bón phân xịt thuốc, để dành riêng nhà họ ăn. Họ biết rõ bón phân xài thuốc là rất độc nhưng họ vẫn làm – để lúa có năng suất cao, rau cải xanh tốt – để bán cho người khác ăn. Riêng gia đình họ không ăn, chỉ ăn đồ nhà. Chưa hết, nếu ngày xưa mua gạo về để lâu trong khạp, bạn thấy có mọt. Giờ kiểm không ra con mọt nào đâu, gạo đều đã được xử lý chất bảo quản, để bao lâu cũng không mọt, không mốc. Còn rau cải, người đi chợ có xu hướng tìm rau cải có sâu để đảm bảo không bị xịt phân thuốc, nhưng làm gì tìm ra được. Rau xanh mướt, nhưng đem về nhà để tới chiều là bấy nhầy ra, ung thối. 

Nhà nông bây giờ khỏe re, nuôi heo không còn lo cám gạo rau muống và xắt chuối cây như ngày xưa. Tất cả heo gà vịt cá tôm đều nuôi bằng thức ăn công nghiệp có chất tăng trọng. Đôi khi tôi nghĩ có phải vì thế mà con người cũng béo phì hơn xưa không, ăn thịt toàn chất tăng trọng cơ mà. Tôi có người bạn, con gái làm trang trại nuôi gà công nghiệp. Bạn nói, nó cho gà ăn toàn thuốc và thực phẩm công nghiệp nhập khẩu Trung Quốc, mở đèn, mở máy lạnh cho gà ăn suốt ngày đem.

Chỉ 3 tuần là con gà to 3–4 kg. Gà không thể đứng nổi, phải nằm ăn, vì xương không phát triển kịp đủ để nâng đỡ trọng lượng. “Bắt con gà lên sẽ thấy nó nặng trịch và thịt cứng ngắc, rất sợ” – bà bạn cho biết vậy. Gà nuôi bằng thuốc rất yếu, dễ chết, chỉ cần cúp điện tắt máy lạnh chừng vài mươi phút là gà ngã ra chết hết luôn. Họ còn nuôi thuốc cho gà đẻ trứng sai, trứng to và đẻ trứng hai tròng đỏ; nhưng con gà chỉ đẻ một, hai lứa là chết kiệt sức. Nếu như ở quê tôi không mấy ai ăn thịt gà công nghiệp thì cả Sài Gòn này đều ăn, nhất là các quán cơm gà bình dân cho công nhân và sinh viên. Gà vườn giá hai trăm ngàn trong khi gà công nghiệp chỉ khoảng bảy chục ngàn một ký. Người nghèo ăn đồ độc hại là điều đương nhiên rồi. 

Người bán thực phẩm, những mụ phù thủy độc ác. 

Có lần tôi ra cảng cá, thấy cá từ tàu mang lên ướp nước đá nhão nhoẹt, tôi thắc mắc: “Cá như này sao bán được?”. Chủ vựa trả lời: "Đây mới là cá tươi, bạn hàng mang cá về nhà sẽ “muối” hàn the và ure, hôm sau mang ra chợ thấy cứng sảng, tươi chong chớ mà ăn độc lắm em."

Hàn the là chất cấm sử dụng trong thực phẩm, là chất độc và lưu trữ vĩnh viễn trong cơ thể mà không bị đào thải qua bài tiết, nhưng người dân quê vẫn sử dụng để bảo quản thực phẩm, làm cho thức ăn tươi lâu, cứng giòn và dai. Chả lụa ướp hàn the sẽ dai ngon và để ngoài nhiệt độ thường hàng tuần lễ không bị hư. Hàn the ướp dưa chuột, dưa kiệu cho giòn, hàn the hay formol dùng trong sản xuất bún, bánh phở cho dai và để được lâu. Người ta còn dùng Typanol là chất tẩy trắng trong công nghiệp giấy để làm cho bún trắng sáng. Chập tối đi chợ chiều, tôi bắt gặp người bán rải từng vốc hàn the lên thớt thịt để giữ thịt có màu đỏ tươi; sáng mai đem ra bán lại, bán hết thịt cũ mới bán tới thịt tươi, trong khi người nội trợ cứ nghĩ đi chợ sớm sẽ mua được thịt tươi ngon, tội nghiệp biết bao! 

Ngâm thịt thối để biến thành thịt tươi! (NLD) 

Đi về vùng biển, tôi được bà con ngư dân chia sẻ một bí mật trong cách làm tôm khô. Tôm biển từ tàu đánh bắt xa bờ (đi ít nhất nửa tháng mới về) thì phải ướp để bảo quản. Cá có thể ướp nước đá, nhưng tôm tép thì không bởi tôm ướp nước đá sẽ bị đen đầu. Do đó, ngư dân phải ngâm tôm bằng hàn the để giữ được con tôm có màu tươi. Như vậy là tôm khô biển rất độc hại, bạn chỉ nên ăn tôm biển từ những tàu đánh bắt gần bờ sáng đi chiều về mà thôi. 

Cá khô cũng vậy. Bây giờ ra chợ hải sản khô người ta không thấy ruồi. Cả làng cá ven biển phơi cá lớp lớp trên giàn phơi bốc mùi tanh nồng cũng không thấy con ruồi nào đâu vào. Tại sao? Bạn bè miền biển cho tôi biết, gia đình họ tự phơi cá ăn chứ không bao giờ mua ở chợ, vì cá khô bây giờ được ngâm “thuốc ruồi”. Đó là một loại hóa chất diệt côn trùng mua từ bên kia biên giới Việt Nam – Campuchia, chỉ cần ngâm cá vào hóa chất, treo lên giàn một đêm là cá khô bán được, không cần phơi nắng, không bị ruồi bu sinh dòi, làm “cá một nắng” bằng cách ngâm thuốc sẽ bảo quản lâu mà không cần đông lạnh gì cả. 

Người ta cũng phát hiện nhà kinh doanh hải sản nhuộm ruốc bằng phẩm màu công nghiệp, đó là chất Rhodamine B dùng nhuộm vải, có thể gây ngộ độc cấp tính và gây ung thư. Vàng Ô (Auramine O) là tên thương mại của chất diarylmethane. Đây là chất màu tổng hợp, chỉ được sử dụng trong công nghiệp để nhuộm và dùng để làm màu sơn quét tường. Thế nhưng người Việt dùng chất đó để nhuộm màu vàng cho măng và dưa cải! Và họ dùng oxyt đồng để nhuộm cho dưa chuột ngâm chua giữ được màu xanh tươi. 

Ở Sài Gòn, dù thèm sầu riêng đến mấy tôi cũng không mua. Nhiều người giống như tôi vậy. Họ sợ sầu riêng ngâm thuốc. Con buôn đến từng vườn sầu riêng, bao mua hết vườn, trái non trái già gì họ cũng hái hết, rồi ngâm sầu riêng trong thùng hóa chất; vài hôm sau, sầu riêng chín đều, bán được hết. Những loại trái cây khác như táo, nhãn… họ cũng ngâm hóa chất – gọi là thuốc phì, chỉ một đêm là táo nở to, trái trông rất ngon; long nhãn nở to đến nỗi nứt cả hạt ra. 

Chợ Việt hàng Tàu.

Khi tôi đi chợ mua rau củ, tôi chỉ mua hàng xấu, củ nhỏ đèo, màu ít tươi. Tôi nói KHÔNG với hàng Trung Quốc. Tất cả rau củ quả, gia vị như cà rốt, khoai tây, củ hành, tỏi, đường, bột ngọt… đều của Trung Quốc. Chợ Việt Nam toàn hàng Trung Quốc. Rau củ Trung Quốc củ to, màu tươi đẹp, bạn mua về để sáu tháng sau không hư hỏng. Và rất rẻ. Chính một chủ vựa hàng legume nói với tôi rằng: “Hàng Trung Quốc vừa rẻ, vừa đẹp, để lâu không bị hư, thì chúng tôi (các nhà kinh doanh) tất nhiên là phải mua bán rồi”.

Tại chợ Kim Biên, Sài Gòn, muốn mua hóa chất “bảo quản” gì cũng có. Tất cả đều là hàng Trung Quốc.

Khi đến cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn, tôi thấy bãi hoa quả Trung Quốc chuẩn bị đưa sang Việt Nam nồng nặc mùi hóa chất bảo quản. Mỗi thùng trái cây có một bịch hóa chất, bạn sẽ không bao giờ thấy nó bởi chủ vựa đã thủ tiêu mất trước khi bán cho người tiêu dùng. Vì vậy, trái cây Trung Quốc không cần bảo quản lạnh vẫn giữ tươi nguyên mấy tháng liền. Dân buôn bán vùng biên giới gọi đó là hàng nóng. Thật bất công khi hàng Việt Nam bán sang Trung Quốc phải là hàng lạnh, trái cây phải được bảo quản bằng xe container lạnh, trong khi hóa chất bảo quản của Trung Quốc bán sang Việt Nam đầy ắp ở chợ Kim Biên, Sài Gòn. 

Trong khuôn khổ một bài viết, tôi không biết nói sao cho hết những nỗi khổ của người Việt Nam khi còng lưng làm lụng để rồi phải ăn toàn chất độc, sống trong môi trường nhiễm độc và chết sớm vì bệnh tật. Trung Quốc cung cấp thuốc độc và người Việt đầu độc lẫn nhau, một cuộc đầu độc vĩ đại có thể khiến đất nước và dân tộc này suy tàn, diệt vong.

*Nguồn: sưu tầm từ lưu trữ, hiện không tìm thấy bài viết cũ trên mạng. Cảm ơn tác giả đã viết một bài viết rất chân thật.

https://www.facebook.com/share/p/1AH9ntkfKZ/?mibextid=wwXIfr

_____________________________

Thursday, February 19, 2026

Cẩm Nang Tuổi Già.

Người ta thường sợ tuổi già, nhưng thật ra điều đáng sợ hơn là già rồi mà vẫn chưa kịp sống cho mình.

1.  Khi tóc bạc, đừng cố chứng minh mình còn khỏe. Tuổi trẻ dùng sức để đi xa. Tuổi già dùng trí để đi chậm. Không ai thắng được thời gian, chỉ có người biết nhường bước mới đi được bình an. Giữ sức - không phải để khoe, mà để còn đủ hơi thở mà vui mỗi ngày.

2.  Tuổi già là lúc được quyền sống theo ý mình. Không cần làm vừa lòng thiên hạ nữa. Ăn khi đói. Ngủ khi mệt. Cười khi vui. Và từ chối khi không muốn. Đời đã quá ngắn để tiếp tục sống trong chữ “ngại”.

3.  Thương con đúng cách là giữ một khoảng cách vừa đủ. Ở gần để còn qua lại. Ở riêng để còn tôn trọng. Giúp con khi cần, nhưng đừng sống thay phần đời của con.Tình thân bền nhất là tình thân không làm nhau ngột ngạt.

4.  Già rồi, hãy chọn nơi khiến lòng mình yên. Không cần cao sang, chỉ cần sạch sẽ, có nắng, có người gọi tên mình mỗi sáng. Sống sao cho mình không thành gánh nặng, mà là một người được trân trọng.

5.  Chuyện cũ hãy kể cho người hiểu. Không phải ai cũng đủ kiên nhẫn nghe chuyện ngày xưa. Người cùng tuổi sẽ hiểu một ánh nhìn, một tiếng thở dài. Giữ ký ức bằng cách chia sẻ đúng người, đó là sự tử tế với chính mình.

6.  Đừng đợi đủ khỏe, đủ tiền, đủ rảnh mới đi. Một chuyến xe buýt cũng là hành trình. Một con đường cũ cũng có thể thành kỷ niệm mới.Ước mơ không già, chỉ có con người hay trì hoãn.

7.  Tuổi già không phải là khổ hạnh
Ăn ngon không phải tham. Mặc đẹp không phải phù hoa. Nghỉ ngơi không phải lười biếng. Đó là phần thưởng xứng đáng cho một đời đã quá nhiều cố gắng.

8.  Quá khứ đẹp thì nên đặt xuống cho trọn vẹn. Nơi làm việc cũ, danh xưng cũ, hào quang cũ, hãy để nó nằm yên trong ký ức. Đừng quay lại chỉ để thấy mình lạc lõng.

9.  Muốn tuổi già an nhiên, hãy nhớ ba điều. Hạnh phúc không ai cho, mình tự tạo. Tiền không mua hết mọi thứ, nhưng thiếu tiền thì khó yên. Con cái thương mình, nhưng mỗi đứa đều có cuộc đời riêng. Không trông chờ quá nhiều, lòng sẽ nhẹ đi rất nhiều.

10.  Hành trang tuổi già chỉ cần bấy nhiêu.

Hãy học QUÊN:

–  Quên tuổi tác.

–  Quên hơn thua.

–  Quên oán giận.

Hãy giữ CẦN:

–  Một mái nhà yên ổn.

–  Một khoản phòng thân.

–  Vài người bạn thật lòng.

–  Một tinh thần biết đủ.

Hãy TRÁNH:

–  Sống phụ thuộc.

–  Can thiệp quá sâu vào đời con.

–  Bán đi chốn về khi chưa bất đắc dĩ.

–  Hy sinh đến mức quên mình.

Và nhớ rằng, bác sĩ giỏi nhất đời người là:

Nắng sớm - Giấc ngủ - Vận động - Ăn uống điều hòa - Sự tự tin - Những cuộc trò chuyện ấm áp.

Tuổi già không đợi ai chuẩn bị xong. Nó đến rất khẽ, như một buổi chiều rơi nắng.

Ai biết sống từ hôm nay,

người đó sẽ không sợ ngày mai.

Nếu bạn đang ở tuổi trung niên,

xin hãy đọc chậm lại - và bắt đầu thương mình sớm hơn một chút. 

CHUẨN BỊ CHO TUỔI GIÀ
KHÔNG PHẢI ĐỂ BUỒN
MÀ ĐỂ AN YÊN VÀ VUI KHỎE.

ST

_____________________

Wednesday, February 18, 2026

Bảy năm rồi .. tôi vẫn còn sống

Năm đó tôi vào viện chụp cái tay gãy. Gãy lâu rồi, nhiều năm rồi, nhưng đau hoài. Bác sĩ bảo chụp. Tôi chụp. Xong họ bảo chụp luôn phổi. Tôi hỏi sao phải chụp phổi, họ nói chụp đi chị.

Rồi từ đó câu chuyện điều trị ung thư phổi bắt đầu, sau khi nhập viện được để xác định bệnh, mất khoảng gần 10 ngày, thì cuối cùng tôi cũng xác định Giai đoạn muộn di căn di căn màng phổi, có đột biến gen EGFR.

Tôi ngồi xe buýt về nhà. Nhìn mấy người trên xe cười nói. Nghĩ à thì ra vậy.

Chồng mất được hơn năm. Cũng ung thư. Dạ dày. Các con ở xa, có gia đình rồi. Tôi về nhà một mình. Nấu cháo. Ăn. Rửa bát. Nằm ngủ.

Hôm sau đi khám lại. Bác sĩ kê đơn thuốc. Gefitinib. Viên nhỏ, màu nâu. Một ngày một viên, 8 giờ sáng.

Tôi về mua thuốc. Đắt. Nhưng có bảo hiểm.

Tuần đầu uống không sao. Tuần hai bắt đầu tiêu chảy. Đi vệ sinh hoài. Có hôm năm sáu lần.

Tuần ba da bắt đầu khô. Nứt nẻ ở tay, ở mặt. Rửa bát là đau. Phải đeo găng. Mà đeo găng rửa bát thì… nước cứ chảy vào trong găng.

Tóc rụng. Sáng nào cũng thấy tóc trên gối. Một mảng một mảng. Tôi không cạo đâu. Cứ để nó rụng. Rụng hết thì thôi. Đội khăn ra ngoài. Hàng xóm nhìn. Họ biết rồi.

Mặt nổi mụn đỏ. Nám đen hẳn ra. Nhìn gương mà không nhận ra mình.

Tháng thứ hai cân giảm. Từ 52 xuống 48. Rồi 45. Rồi 42.

Ăn gì cũng buồn nôn. Mùi cơm tanh như mùi thuốc. Tôi phải ăn cháo. Ăn từng thìa. Có hôm ăn được nửa bát đã thấy no. Có hôm nôn hết ra.

Sống một mình thì những việc này không có ai biết.

Không có ai hỏi hôm nay ăn được không. Không có ai bảo chị nên ăn thêm tí nữa. Không có ai nhắc giờ uống thuốc chưa.

Có hôm quên uống thuốc. Nhớ ra lúc 11 giờ. Uống bù. Không biết có sao không.

Có hôm đau quá nằm trên sàn. Nằm đó từ chiều đến tối. Không có ai biết. Không có ai gọi điện. Tối tự bò dậy. Uống nước. Rồi nằm lên giường.

Các con gọi điện tháng một hai lần. Hỏi mẹ khỏe không. Tôi nói khỏe. Chúng nó bận. Có con cái. Có công việc. Tôi không muốn làm phiền.

Có những đêm tôi nghĩ thôi ngừng uống thuốc đi. Để nó chết đi cho rồi. Mệt rồi.

Nhưng sáng hôm sau lại thức dậy. Thấy nắng. Thấy… à còn sống. Thôi thì uống tiếp một ngày nữa.

Không phải vì ý chí gì đâu. Chỉ vì… chưa chết được.

Người ta nói phải lạc quan. Phải chiến đấu. Nhưng có những ngày tôi không chiến đấu gì cả. Chỉ nằm đó. Nhìn trần nhà. Rồi ngủ. Rồi tỉnh. Rồi lại nằm.

Nhìn người khác đi chợ, đi chơi, cười nói, tôi ganh. Thật đấy. Tôi ganh họ khỏe mạnh. Ganh họ có tóc. Ganh họ ăn uống bình thường.

Tôi biết nghĩ vậy xấu. Nhưng nó cứ đến.

Có lần gặp người quen ở chợ. Họ hỏi “chị khỏe không?” Rồi đi luôn. Không đợi tôi trả lời.

Có lần bạn cũ nhắn tin “chị cố gắng nhé”. Rồi mất hút. Không thấy nhắn nữa.

Người ta sợ bệnh. Sợ cái chết. Sợ nhìn thấy mình trong người bệnh.

Tôi không trách. Nhưng cô đơn thật.

Năm thứ ba có chuyện lạ.

Tôi ngừng đếm ngày.

Trước đó cứ nghĩ mãi mình còn sống được bao lâu. Sáu tháng? Một năm? Bác sĩ không nói rõ.

Rồi một hôm tôi nghĩ… kệ đi. Biết để làm gì. Biết rồi cũng chẳng làm gì được.

Hôm nào thức dậy là hôm đó sống. Không thức dậy thì thôi.

Tôi bắt đầu để ý những thứ nhỏ. Bát cháo nóng buổi sáng. Nắng chiều chiếu vào sân. Tiếng chim kêu. Cháu gọi điện hỏi thăm.

Không phải tôi đột nhiên yêu đời. Chỉ là chán nghĩ về chết.

Bây giờ bảy năm rồi. Tôi 70.

Vẫn uống viên thuốc màu nâu. Mỗi sáng 8 giờ. Đã thành quen. Như ăn cơm.

Vẫn da khô. Vẫn mệt. Vẫn tiêu chảy thỉnh thoảng.

Nhưng khối u không lớn thêm. Chụp lại vẫn vậy. Bác sĩ bảo ổn định.

Tôi không nghĩ nhiều. Ổn định thì cứ sống tiếp.

Tóc mọc lại. Bạc trắng. Thưa. Nhưng có tóc.

Cân vẫn 42-43kg. Không tăng được. Nhưng cũng không giảm nữa.

Mấy đứa con về thăm dịp Tết. Thấy tôi còn sống, mừng lắm. Cháu hỏi bà sống lâu thế bí quyết gì.

Tôi cười. Bà cũng không biết.

Thật đấy. Tôi không biết.

Có người uống thuốc này được vài tháng rồi mất. Tôi uống được bảy năm. Không phải vì tôi làm gì đặc biệt. Chỉ là… may. Hoặc chưa đến lúc.

Hôm qua đi khám. Bác sĩ hỏi có đau không. Tôi nói có, đau chân. Bác sĩ nói chân đau vì già chứ không phải vì ung thư.

Tôi cười. Ừ cũng đúng. 70 rồi mà.

Ra về ngồi đợi xe buýt. Nhìn mấy người đi đi lại lại. Tự nhiên nghĩ… mình vẫn còn đây.

Bảy năm rồi. Chồng chỉ sống được một năm. Còn mình bảy năm rồi.

Không biết vì sao.

Hôm nay thức dậy sáng. Uống thuốc. Nấu cháo. Ăn. Ngồi phơi nắng.

Bé hàng xóm đi học qua, vẫy tay chào bà.

Tôi vẫy lại.

Sống không có gì hoành tráng. Chỉ là… cứ thế.

Ngày nào cũng vậy. Thức dậy. Uống thuốc. Ăn. Ngồi. Nằm. Ngủ.

Rồi hôm sau lại thức dậy.

Tôi không nói với ai là phải mạnh mẽ. Vì có lúc không mạnh mẽ được.

Tôi cũng không nói đừng bỏ cuộc. Vì có những ngày chỉ muốn buông.

Tôi chỉ nghĩ… hôm nay chưa chết thì cứ sống thêm một ngày xem sao.

Không cần nghĩ xa.

Chỉ cần… sống tiếp.

70 tuổi rồi  

ung thư phổi giai đoạn bốn

bảy năm rồi

tôi không biết còn bao lâu  

nhưng hôm nay  

tôi vẫn đây

https://www.facebook.com/share/p/17da1JTA7V/?mibextid=wwXIfr


________________________________

Tuesday, February 17, 2026

TUỔI GIÀ DỄ THƯƠNG ....

Tôi bước ra khỏi siêu thị và tìm chìa khóa xe. Nó không có trong túi của tôi. Tôi vào trong lục tung cà chua, khoai tây tất cả các kệ hàng mà chẳng thấy gì. Đột nhiên tôi nhận ra có thể tôi đã để nó trong xe và nó có thể đã bị đánh cắp. 

Tôi chạy ra bãi đậu xe và XE ĐÃ MẤT!

Tôi đã gọi cho cảnh sát và cho họ vị trí của tôi, mô tả xe, biển số,... , vân vân... , và tôi thú nhận rằng tôi đã để quên chìa khóa bên trong.

Sau đó tôi đã đưa ra một cuộc gọi khó khăn nhất... gọi vợ tôi. Em yêu.... (Giọng rung rung) Anh để quên chìa khóa trong xe và nó đã bị đánh cắp! Đã có một khoảng lặng dài... Sau đó cô ấy hét lên: Em chở anh và đưa anh đi siêu thị trước khi đi làm tóc! Đồ ngốc!

Không xấu hổ nhưng hạnh phúc, tôi nói: Thật ngọt ngào! Vậy em có đến đón anh không? 

Cô ấy lại hét lên, em không thể, đồ ngốc! Em đang ở đồn cảnh sát và em phải thuyết phục họ rằng em không ăn cắp chiếc xe! 

Cang Huỳnh 
lược dịch từ Le ca nard Enchainé

_______________________

Monday, February 16, 2026

Hạ Anh - Xin Còn Nắm Tay Nhau

CHÚC CÁC BẠN MỘT NĂM MỚI THẬT NHIỀU NIỀM VUI, YÊU THƯƠNG, VÀ HẠNH PHÚC ! 
🌈💐♥️

Ngày sẽ tới tôi sẽ không chờ đợi
Ngày đã qua tôi cũng chẳng buồn vương
Tôi đã đi qua hết những đoạn đường
Không tiếc nuối và chẳng còn sợ hãi.

Chiều tắt nắng, hoàng hôn về bên mái
Nắng lung linh hoa lá cũng reo cười
Đêm đâm chồi hứa hẹn những ngày vui
Thương quá đỗi trần gian dù khốn khó.

Cây cối lá hoa xanh vàng trắng đỏ
Ðã cho tôi từng khoảnh khắc diệu kỳ
Cuộc đời này đâu phải chỉ chia ly
Mà cũng có cả muôn lần hạnh ngộ.

Mầm hệ luỵ lâu rồi không nhánh trổ
Cho hơn thua, giận dỗi, oán hờn
Chuyện thường tình nhân thế cỏn con
Ngày chật hẹp…chắc gì còn đủ chỗ

Lòng bay bổng như chim trời cánh vỗ
Sáng ra sân ngắm nghía nụ hoa vàng 
Gió đâu về bay lạc giữa không gian 
Hồn chao lượn theo ong vàng, bướm trắng

Thương nhiều lắm buổi hoàng hôn tắt nắng 
Đêm trăng sao nhấp nháy rủ nhau về 
Đêm yên bình ngan ngát đẫm hương mê
Tôi hít mãi tới tận cùng nhịp thở.

Chuyện trần thế dù muôn vàn trắc trở 
Bận lòng chi ! xin hãy nắm tay nhau 
Yêu…yêu đi ! dù nhan sắc phai màu
Yêu …yêu lắm ! mặc cuộc đời hờ hững!

Hạanh.31.12.24

_________________________

Sunday, February 15, 2026

Cách làm giò hoa nhiều màu sắc, đẹp mắt cho mâm cỗ Tết

 Nam Việt


Giò hoa là món ăn quen thuộc trong mâm cỗ Tết, hấp dẫn bởi hình thức nhiều màu sắc và hương vị đậm đà, hòa quyện giữa giò sống, trứng muối, lạp xưởng và các loại rau củ.

Trong mâm cỗ Tết truyền thống, bên cạnh những món quen thuộc như bánh chưng, thịt đông hay dưa hành, giò hoa tạo điểm nhấn riêng nhờ hình thức bắt mắt và hương vị hài hòa của nhiều loại nhân.

Không chỉ mang đến sự mới lạ, món ăn này còn giúp mâm cỗ thêm sinh động, là lựa chọn lý tưởng để ghi dấu ấn với người thân và khách đến thăm nhà dịp đầu năm.

Nếu muốn thử món ăn này, bạn có thể tham khảo công thức chi tiết của chị Tô Hưng Giang ở Hà Nội, để tự tay chế biến món ăn này tại nhà



1: Nguyên liệu

Trứng gà: 2 quả to

Giò sống: 200g

Mộc nhĩ: 3 tai

Nấm hương: 4 tai

Cà rốt: 1/3 củ

Đậu cove hoặc đậu đũa: 2 quả (có thể thay bằng đậu Hà Lan hoặc thêm hạt đậu Hà Lan)

Lạp xưởng: 1 chiếc

Trứng muối: 5 quả

Gia vị: bột nêm, hạt tiêu

Giấy bạc hoặc lá chuối, màng bọc thực phẩm

* Cách làm

Bước 1:  Mộc nhĩ và nấm hương đem ngâm nước ấm cho nở mềm, rửa sạch rồi thái sợi thật nhỏ. Cà rốt bào hoặc thái sợi mảnh. Đậu cove rửa sạch, để nguyên quả hoặc chần sơ cho mềm.

Bước 2:  Trứng muối ngâm qua chút rượu trắng để khử mùi tanh, sau đó đem hấp khoảng 10 phút cho chín, lấy ra để nguội. Lạp xưởng giữ nguyên chiều dài, chẻ dọc làm bốn phần.




Bước 3: Cho giò sống vào âu lớn, thêm mộc nhĩ, nấm hương, cà rốt đã sơ chế. Nêm khoảng 1/3 thìa cà phê bột nêm và 1/3 thìa cà phê hạt tiêu, trộn đều. Không nên nêm quá nhiều gia vị vì giò sống, trứng muối và lạp xưởng vốn đã có độ mặn và vị ngọt tự nhiên, nếu nêm tay sẽ khiến giò bị mặn.

Bước 4:  Đập 2 quả trứng gà ra bát, thêm khoảng 1/2 thìa canh nước phở hoặc nước lọc, nêm rất nhẹ chút bột nêm hoặc bột canh rồi đánh tan. Bắc chảo chống dính, tráng trứng thật mỏng thành một lá trứng lớn, nhẹ tay để trứng không bị rách. Khi trứng chín, nhẹ nhàng úp ra đĩa và để nguội.



Bước 5: Đặt lá trứng lên mặt phẳng sạch, úp mặt đẹp xuống dưới. Phết đều hỗn hợp giò sống lên khắp bề mặt trứng, dàn phẳng. Xếp 5 quả trứng muối thành hàng ở chính giữa, hai bên là các miếng lạp xưởng chẻ dài, tiếp đến đặt đậu cove hoặc đậu Hà Lan dọc theo thân giò để tạo màu sắc.

Bước 6: Cuộn giò từ từ và nhẹ tay để trứng không bị rách. Khi cuộn xong, bọc kín bằng một lớp màng bọc thực phẩm, sau đó cuộn thêm một lớp giấy bạc hoặc lá chuối bên ngoài, xoắn chặt hai đầu để cố định.

Bước 7: Cho giò vào nồi hấp, hấp khoảng 30 phút đến khi giò chín hoàn toàn. Sau khi hấp, để giò nguội hẳn rồi mới cắt khoanh, khi đó khoanh giò sẽ sắc nét, không bị vỡ.




Bước 8: Giò hoa sau khi làm xong có thể bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh khoảng 2 ngày. Nếu muốn để lâu hơn, có thể cho vào ngăn đá, khi dùng chỉ cần rã đông tự nhiên và hấp nóng lại.

Với màu sắc hài hòa, hương vị đậm đà, giò hoa không chỉ là món ăn ngon mà còn góp phần làm mâm cỗ Tết thêm trọn vẹn và ấm cúng.

Ảnh: Tô Hưng Giang
https://dantri.com.vn/tet/cach-lam-gio-hoa-nhieu-mau-sac-dep-mat-cho-mam-co-tet-20260205211349560.htm
____________________________

Saturday, February 14, 2026

Én Trong Thơ, Yến Ngoài Hiên...

Bí Bếp

Hồi còn nhỏ, sống ở miền Trung, tôi ít khi để ý đến các loài chim. Trong trí nhớ chỉ lơ thơ vài cái tên quen tai, chim se sẻ, cò trắng, con quạ đen hay rình bắt gà con, rồi chim sáo, chim nhồng, két, thứ “biết nói tiếng người” khiến bọn con nít tụi tôi vừa sợ vừa mê. Còn chim én thì thiệt tình, tôi chỉ nhớ nó qua văn thơ, chứ nhìn ngoài trời, tôi chẳng phân định được con nào là én, con nào là yến. Nghe người lớn nhắc “én về”, tôi cứ tưởng đó là một thứ dấu hiệu huyền diệu lắm, kiểu như trời vừa đổi gió là mùa xuân rón rén bước vô sân.

Lớn lên một chút, đọc Truyện Kiều, chữ “én” mới thật sự có hình, có bóng, có nhịp. Nguyễn Du chỉ cần một câu thôi mà khiến tôi thấy mùa xuân bay qua trước mắt, nhanh như thoi đưa, nhẹ mà gấp, đẹp mà vội,

“Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.”

Đọc tới đó, tôi hiểu ra, én trong thơ không chỉ là một con chim, nó là nhịp thời gian. Nó bay qua không xin phép, mà cũng chẳng hẹn ngày về, chỉ để lại phía sau một khoảng bâng khuâng, như đứng trước thềm nhà mà nghe tết đã tới, dù trong tay chưa kịp nắm gì.

Rồi đời đưa tôi đi xa, về sau lại có dịp trở lại quê nhà, và tôi gặp một “mùa chim” khác, không còn ở trong sách. Ở xứ mình, người ta nuôi yến lấy tổ gần như đại trà, thế là yến hầu như có ở khắp nơi. Tiếng chích chích của chúng, nghe riết cũng quen, nhưng nhiều lúc lại khá khó chịu, nhất là khi người nuôi dùng máy khuếch đại tiếng chim để dụ đàn về. Thế là giữa vùng quê, hoặc ngay trong mấy xóm nghèo, bỗng mọc lên những căn nhà bê tông kín bưng, nom kiên cố, bệ vệ, cửa nẻo như dành cho một “thế giới” riêng, bên trong tối mờ, mát lạnh, chỉ để chim ra vô, làm tổ, đẻ trứng, rồi người vào thu hoạch.

Chính lúc đó tôi mới thấy mình cần nói cho rõ, kẻo lại lầm, vì đời sống bây giờ làm cái chữ “yến” trong đầu mình đổi nghĩa đi ít nhiều. Én là thứ chim hay liệng thấp, đuôi chẻ sâu, thỉnh thoảng đậu dây điện, mái hiên, làm tổ bằng bùn dưới mái nhà. Còn yến mà người ta nuôi lấy tổ, lại bay vút nhanh, cánh dài cong như lưỡi liềm, chân yếu, ít khi chịu đậu kiểu én, và làm tổ bằng thứ keo nước bọt bám lên vách, lên trần. Hai loài nhìn thoáng qua thì đều “nhỏ, bay nhanh”, nhưng coi kỹ sẽ thấy khác nhau một trời một vực.

Còn “nhạn” lại là một chữ dễ làm người ta rối. Trong cách nói bình dân, nhiều khi người ta gọi trơn “én”, thế là xong. Nhưng trong văn chương Hán Việt, “nhạn” thường gợi tới ngỗng trời, chim lớn, bay đàn, bay thành hàng, mang theo chuyện “nhạn tín”, thư từ, tin tức. Trong khi đó, có lúc chữ nghĩa lại lắt léo, “nhạn, yến” được dùng như một cặp hình ảnh cho chim chóc, cho đổi thay, cho tháng năm qua lại. Truyện Kiều cũng có câu,

“Gần xa nô nức yến anh.”

Vậy nên, nếu không để ý, mình dễ mang cái “yến sào” ngoài đời mà gắn vô “yến anh” trong thơ, rồi thấy mọi thứ lệch nhịp. Thơ thì dùng chữ để gợi, để vẽ, để thắp một mùa lên trong lòng, còn đời thì dùng tiếng loa để dụ chim về làm tổ trong bê tông. Nghĩ tới đó, tôi vừa mắc cười, vừa thấy buồn cười cũng không hết buồn.

Dẫu vậy, trong văn hóa người mình, chim én vẫn có một chỗ đứng rất riêng. Én là biểu tượng của mùa xuân, của may mắn, của hòa bình. Én về là báo hiệu tết, báo hiệu tuổi trẻ, niềm vui, hy vọng. Trong tranh vẽ, bích họa, trong câu đối ngày xuân, hình dáng én thường đi với hoa mai, hoa đào, như một dấu hiệu quen thuộc, dịu dàng, rằng mùa mới đã về thật rồi, không còn là chuyện đồn.

Tôi nhớ câu “một cánh én không làm nên một mùa xuân”, ai cũng thuộc. Nhưng tôi lại nhớ thêm một câu nói khác, của anh Y Rick, ông anh người Rha Đê mà tôi từng sinh hoạt chung hồi ở Rochester, Mn, một thành phố lạnh lẽo bên Mỹ. Anh em tôi từng ngồi nói chuyện cộng đồng, chuyện làm việc chung, chuyện bị người ta bàn ra, chuyện bị người ta chê cười, rồi tự dưng anh nói tỉnh queo, cánh én tuy không làm nổi một mùa xuân, nhưng nó luôn mang hình ảnh của mùa xuân. Nghe vậy, tôi bật cười, mà trong lòng lại ấm. Thế là bất chấp bao luận điểm tiêu cực, bao thứ “bàn ra”, hễ việc chung, việc vô tư lợi, thì cứ xắn tay áo lên mà làm. Ai tham gia thì cùng làm, ai không tham gia thì thôi, mình không vì vậy mà bẻ lái. Nhiều năm trôi qua, mỗi người một nơi, câu nói ấy vẫn còn văng vẳng trong tôi, như một tiếng gõ nhẹ vào trí nhớ mỗi khi mình muốn chùn bước.

Rồi chiều nay, ở xứ Mưa, tôi ngồi nhớ chuyện xưa. Qua cửa sổ, mặt trời đang xuống, ánh vàng rớt chậm trên mái nhà, ngoài trời có vẻ ấm hơn đôi chút sau ngày diễn hành ăn mừng chiến thắng, đường phố mới hôm qua còn rộn ràng, hôm nay trở lại cái yên lặng quen thuộc của Seattle. Tôi gắng tìm xem có con “én là đà” nào không, chỉ cần một cái bóng lướt qua cũng đủ cho lòng bớt trống. Nhưng nhìn quanh, ngó dọc, ngó vắn, chẳng thấy ẻm nào cả, cũng chẳng ngạc nhiên, vì én thường xuôi nam theo đàn để trốn lạnh. Xứ Mưa còn lạnh, làm sao thấy én.

Thôi thì tạm cứ nhớ én trong tâm, như mình nhớ tết quê hương của một thuở nào. Én không hiện ra ngoài trời, nhưng cái “én đưa thoi” thì vẫn bay trong trí nhớ, nhắc khẽ rằng mùa xuân, dù ở đâu, cũng bắt đầu từ một niềm tin nhỏ, và từ một người chịu làm trước, lặng lẽ như một cánh én.

________________________________

Friday, February 13, 2026

TẾT ĐẾN RỒI SAO ?

Hạ Anh



 https://www.facebook.com/nguyen.thuy.hanh.161783

________________

NHỮNG TỜ LỊCH CŨ

 Trần Mộng Tú

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ.
Mới hay năm tháng đã thay mùa.

(Thanh Nam)

Khi còn ở quê nhà, mỗi năm tôi đều mua một cuốn lịch để bàn, loại lịch xé mỗi ngày một tờ, không chỉ mua riêng cho tôi mà còn cho tất cả các bàn làm việc trong hãng Thông Tấn AP. Tờ lịch xé ra ghim vào một miếng gỗ có cái cây sắt nhọn để ngay bên cạnh cuốn lịch.

Thursday, February 12, 2026

TẤT BẬT NGÀY CẬN TẾT

ĐINH TẤN KHƯƠNG

Hôm nay, ngày 30 tết hầu hết mọi người trong nước cũng như ở hải ngoại đều tất bật để hoàn tất việc mua sắm và chuẩn bị cho những ngày đầu xuân. Thiệt cũng lạ, hổng biết tại sao người ta cứ gọi ngày 30 tháng chạp là “ngày 30 tết”. Có lẽ nên gọi là “ngày tất niên” hay là “ngày cuối năm” thì nghe có phần hợp lý hơn chăng? Thôi thì, ai muốn gọi sao cũng được, miễn là nghe có hơi hướm của tết là được rồi.

Wednesday, February 11, 2026

Chuyện bệnh viện ở VN

Kể chuyện cách nay chục năm. 

Mình đang ngồi làm bệnh án, thấy cô hộ sinh nói thai phụ “leo lên bàn nằm đi em”, 1 phút sau vẫn thấy đứng. 

Leo lên bàn đi em, để chị khám. 

Thai phụ vẫn không leo. 

Mình bước vào phòng sanh xem, ối trời ơi, cái bàn toàn má.u.