Hôm nay, gia đình chúng tôi làm lễ cúng đình, trước là để tỏ lòng biết ơn những người còn sống, cũng như người đã khuất, đã âm thầm đồng hành và nâng đỡ gia đình suốt chặng đường dài tranh đấu để giành lại căn nhà từng bị kẻ vô ơn, bất nghĩa, bất lương chiếm đoạt bao năm.
Ngôi đình của xã đã cũ lắm. Tường vôi bong tróc, mái ngói xô lệch, chỗ khung gỗ mối mọt ăn dần theo thời gian. Vậy mà ngay giữa cái không khí khói nhang, giữa cái chốn vốn dành cho lòng người hướng về tổ tiên và thần linh, lại nổi bật một bức tượng trắng ngần của một nhân vật chính trị gắn với chủ nghĩa duy vật, vô thần. Tượng đặt ở đó như thể người ta cố đưa hình ảnh ấy vào vai một bồ tát, một vị thần, hay rộng hơn, một thứ “thánh” theo cách gọi đời thường.
Tôi đứng nhìn mà ngẫm. Cái cảnh trái khoáy này không phải chuyện lạ hiếm hoi. Nó xảy ra ở nhiều nơi, từ đình, đền, miếu cho tới những chỗ vốn dĩ chỉ nên dành cho niềm tin dân gian và đạo lý truyền đời. Một bên là đời sống tâm linh của dân, một bên là biểu tượng quyền lực của một hệ tư tưởng vốn không thờ phụng ai ngoài chính nó, vậy mà vẫn được sắp đặt cho đứng chung, như thể phải “hợp cảnh,” phải “hợp lòng,” dù ai cũng thấy nó chỏi nhau.
Càng nghĩ càng thấy đây không hề vô tình. Nó giống một sự “phản đề” được tính toán sẵn: vừa muốn phủ nhận cái thiêng, lại vừa mượn chính cái thiêng để khoác áo cho mình, để ngồi vào chỗ trang trọng nhất trong lòng người. Lố bịch ở chỗ, điều không khớp vẫn phải làm như khớp; điều không hợp đạo vẫn bị ép coi là hợp. Lâu dần, cái không khớp ấy thành quen mắt, quen tai, quen đến mức người ta thôi không buồn hỏi nữa.
Nghĩ vậy, tôi hỏi vài “nhân sĩ” địa phương, kiểu người lâu nay vẫn được coi là rành chuyện trong làng, trong xã: “Chuyện này có từ hồi nào vậy? Sao ai cũng im, cũng coi như không thấy, để một điều mâu thuẫn rành rành nằm ngay giữa chốn hương khói như vậy?”
Mấy người nhìn nhau, rồi cười nhạt. Người thì nói lơ đãng: “Lâu rồi.” Người khác đáp gọn lỏn: “Từ hồi trên cho làm.” Có người không nói thẳng, chỉ nhún vai, mắt liếc qua bên kia như ngại cái tường cũng có tai. Tôi nghe ra trong cái “lâu rồi” ấy có cả một thứ cam chịu âm thầm, quen dần với điều trái khoáy, quen tới mức thôi không hỏi nữa cho mệt.
Tôi hỏi tiếp, cũng chỉ là hỏi cho đúng lẽ: “Nếu đã là biểu tượng của chủ nghĩa vô thần, sao không đem đặt trước trụ sở UBND xã, chỉ vài chục mét thôi, chỗ hành chính mà đứng cho đúng vai, đúng cảnh? Hoặc đưa vô những nơi sinh hoạt tuyên truyền, hội họp, cho hợp hơn? Sao lại cứ phải ‘đứng’ ngay trong đình, chen vào chỗ đáng lẽ dành cho tổ tiên, cho thần linh, cho lòng người?”
Câu trả lời còn ngắn hơn. Có người bảo: “Đặt vậy cho… trang trọng.” Có người nói nhỏ: “Nói chung là… họ muốn vậy.” Rồi lại im. Cái im đó mới đáng sợ: không phải im vì không biết, mà im vì biết quá rõ cái giới hạn của một câu nói.
Tôi bước ra khỏi đình, nhìn qua phía UBND xã ngay gần đó, bỗng thấy cái khoảng cách vài chục mét mà dài như cả một khúc sông. Chỉ cần dời bức tượng đi đúng chỗ, mọi thứ sẽ “hợp” hơn, đỡ chỏi nhau hơn. Vậy mà người ta lại cố tình để nó chỏi, để nó ngồi lên chỗ thiêng, như một cách nhắc khéo rằng có những thứ không chỉ muốn quản cái đời sống hành chính của dân, mà còn muốn chen luôn vào phần sâu kín nhất của niềm tin.
Và tôi hiểu vì sao bà con “âm thầm chịu đựng.” Không phải vì họ tin đó là điều đúng, mà vì họ mỏi mệt với chuyện cãi cái sai đã được đóng dấu thành “đúng.” Đình vẫn còn đó, nhang khói vẫn còn đó, nhưng cái thiêng bị pha loãng bởi một thứ sắp đặt chỏi ngược mà ai cũng thấy, ai cũng biết, và ai cũng phải tập sống chung, như tập sống chung với một nỗi nghẹn, không nói ra, nhưng nằm hoài ngay trong cổ họng.

No comments:
Post a Comment