Bí Bếp
Tháng Tư, với nhiều người Việt tha hương, nó không phải chỉ là một tháng trong năm. Nó là thứ tháng nghe tới thì lòng người tự dưng chùng xuống, như gặp lại một vết sẹo cũ nằm khuất đâu đó trong da thịt, ngày thường không nhắc thì thôi, chớ hễ trở trời là nó nhức. Người ta gọi là “tháng Tư đen”, nghe thì gọn một câu, mà trong đó chứa biết bao nhiêu nỗi đoạn trường. Có những chuyện của một đời người, qua rồi thì thôi. Nhưng cũng có những chuyện của lịch sử, nó đi ngang một lần mà để dấu lại cho mấy chục năm sau, người ta vẫn chưa nói cho hết được cái nặng trong lòng.
Sau cái mốc 30 tháng 4 năm 1975, bao nhiêu đời người bỗng đổi hướng như chiếc ghe đang xuôi nước mà bị đẩy qua một dòng khác. Có người mất nhà, có người mất quê, có người mất tuổi trẻ, có người mất luôn cái phần tin tưởng trong lòng mình. Cái chữ “đổi đời” nghe qua tưởng như khá lắm, ngon lành lắm, nhưng thiệt tình, với nhiều người, đó là một cuộc đổi từ yên sang động, từ quen sang lạ, từ chỗ đứng trên đất mình mà thành người đi ở nhờ trên đất người. Mấy chục năm rồi chớ đâu phải ít, vậy mà mỗi lần Tháng Tư về, cái dư vị cũ ấy vẫn còn, như mùi khói bếp bám trong mái lá, mưa nắng cách mấy cũng chưa bay hết.
Năm nay, Tháng Tư của 2026, thiên hạ ngoài kia cũng chẳng yên. Bên Ukraine, súng đạn còn nổ, người chết còn có, thành ra hòa bình vẫn chỉ là chuyện người ta nói trên bàn giấy, chớ dưới đất thì dân đen còn chạy, còn núp, còn sống bữa nay mà chưa biết bữa mai. Qua tới Trung Đông thì lại thêm một nồi nước sôi khác, Iran, Lebanon, rồi cả vùng Vịnh cứ làm cho thế giới nhấp nha nhấp nhỏm. Mấy chuyện đó nghe ra tưởng tận đâu đâu, xa cái xứ mưa Seattle này lắm, nhưng thiệt ra nó đâu có xa. Chỉ cần lái xe ra trạm xăng, đứng ngó cái bảng giá hơn 6 đô một gallon ở Seattle hay bên California, là tự nhiên hiểu liền, à, thì ra chiến tranh không nằm gọn trong tiếng đại bác, mà nó còn chui vô cái bóp tiền, vô hóa đơn, vô cái nhíu mày của người đi làm cuối tháng.
Hồi xưa, người mình ở quê hay nói một câu nghe gọn hơ, “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết”. Câu đó thiệt ra không phải để nói chơi. Nó tóm gọn cả bao nhiêu chuyện binh đao của loài người. Ở trên cao, người ta bàn chiến lược, bàn răn đe, bàn an ninh, bàn chủ quyền, nói chữ nào nghe cũng cứng cỏi, cũng sang trọng, cũng có vẻ như vì đại cuộc hết trơn. Nhưng ở dưới thấp, dân thường chỉ thấy chợ búa mắc hơn, xăng dầu tăng hơn, việc làm bấp bênh hơn, lòng người thì bất an hơn. Bên này đem tàu chiến ra, bên kia chận eo biển lại, lời qua tiếng lại nghe toàn chuyện lớn lao, mà rốt cuộc người lãnh đủ vẫn là những người chẳng ai hỏi tới bao giờ, những người chỉ mong sáng đi làm, chiều về nhà, cơm nước xong xuôi, con cháu yên ổn, vậy thôi.
Ngẫm cho kỹ, chiến tranh đời nào cũng vậy, ít khi nào chỉ vì lý tưởng. Lý tưởng là cái bảng hiệu treo ngoài mặt tiền cho đẹp mắt, cho dễ nghe. Còn đi vô phía sau mới thấy là quyền lực, là dầu mỏ, là đường vận chuyển, là miếng ăn chiến lược, là cái hơn thua giữa những kẻ muốn nắm phần trên. Người ta nhân danh đủ thứ, khi thì vì an ninh quốc gia, khi thì vì tự do, khi thì vì ổn định khu vực. Nhưng nói cho cùng, bom rơi xuống đầu ai, đạn xuyên qua ngực ai, nhà cửa sụp trên thân ai, thì đâu có rơi xuống đầu mấy người ngồi ký giấy. Nó rơi xuống dân thường. Nó đè lên những bà mẹ, những đứa nhỏ, những anh lính mới lớn chưa kịp sống cho ra sống, những ông già bà cả đang mong cuối đời được yên.
Buồn một nỗi là con người càng văn minh, cái cách nói về chiến tranh càng bóng bẩy. Hồi trước thì nói là đem quân đi đánh. Bây giờ thì nói là can thiệp, là thiết lập trật tự, là bảo vệ lợi ích cốt lõi, là phản ứng cần thiết. Đổi chữ vậy thôi, chớ cái giá phải trả vẫn y như cũ. Vẫn là mạng người. Vẫn là nước mắt. Vẫn là một đám tang ở đâu đó mà người nằm xuống chưa chắc đã hiểu vì sao mình phải chết. Nói thiệt, lịch sử loài người, đọc cho kỹ, nhiều khi không phải là lịch sử của văn minh cho bằng lịch sử của lòng tham biết thay áo. Bữa nay mặc áo này, mai mặc áo khác, nhưng ruột gan bên trong coi bộ cũng vẫn vậy.
Bởi vậy nên càng lớn tuổi, càng trải chuyện đời, người ta càng bớt tin vô những lời hùng hồn. Hồi trẻ, nghe hai chữ chính nghĩa còn thấy lòng rạo rực. Tới chừng tóc pha sương rồi mới hiểu, hễ chỗ nào có súng nổ, có giá xăng nhảy vọt, có tàu chiến rầm rộ, có dân chạy loạn bồng con, thì chỗ đó trước sau gì cũng là nơi con người đem cái tham, cái giận, cái sợ của mình trút lên nhau. Hòa bình, xét cho cùng, không phải thứ trời cho sẵn để ai muốn hưởng thì hưởng. Nó là thứ hiếm hoi, mong manh, giữ được là nhờ con người biết nhịn, biết thương, biết coi mạng người khác cũng nặng như mạng mình. Mà tiếc thay, cái đó nghe dễ chớ làm mới khó.
Tháng Tư vì vậy đâu chỉ gợi chuyện cũ của người Việt. Nó còn làm mình nhớ ra rằng thế giới này, sau bao nhiêu đổ nát, vẫn chưa chắc đã khôn hơn xưa bao nhiêu. Hết cuộc chiến này tới cuộc chiến khác, chỉ đổi chỗ, đổi cờ, đổi tên, còn nỗi đau thì vẫn y nguyên. Hồi trước người mình bỏ xứ mà đi vì thời cuộc. Ngày nay, dân xứ khác cũng lại ôm con mà chạy vì thời cuộc. Hôm qua là chuyện của mình, bữa nay là chuyện của thiên hạ, mai mốt biết đâu lại thành chuyện của một đám người khác. Cái vòng đó, nghĩ mà ngán.
Nên nói cho rốt ráo, điều đáng sợ không phải chỉ là chiến tranh còn tồn tại, mà là hình như con người chưa thiệt lòng chán chiến tranh. Người ta vẫn thích nói về hòa bình, nhưng hễ quyền lợi bị đụng tới là hòa bình mỏng như tờ giấy. Người ta vẫn ca ngợi nhân đạo, nhưng tới lúc hơn thua thì lại dễ dàng kiếm ra một lý do để tàn nhẫn với nhau. Thành ra mới thấy, sống giữa thời buổi này, dân thường chỉ còn biết cầu mong cho thế giới bớt đi vài phần hung hăng, bớt đi vài phần tham lam, để con cháu mình sau này đỡ phải lớn lên trong cái cảnh cứ hễ mở tin tức ra là thấy khói lửa, thấy giá xăng, thấy người chết, rồi tự hỏi rốt cuộc văn minh mấy ngàn năm để làm gì.
Có lẽ câu buồn nhất, mà cũng thiệt nhất, là vầy, hòa bình là thứ con người ai cũng thích nhắc tới, nhưng chiến tranh lại là thứ họ cứ lập đi lập lại bằng chính lòng tham, nỗi sợ, và tánh hơn thua của mình. Nói xa nói gần gì rồi cũng quay về một chuyện rất gần, chừng nào con người còn chưa học được cách sống cho ra con người, thì thanh bình vẫn còn là món nợ mà thế gian này trả hoài chưa hết.
Hòa bình quý lắm, nhưng tiếc thay, con người thường chỉ biết quý nó sau khi đã chính tay mình làm cho nó tan nát.

No comments:
Post a Comment